Quá trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam:
Năm 1965, Anderson và cộng sự đã mô tả lần đầu tiên sinh thiết xuyên phế quản bằng ống soi cứng trên 450 bệnh nhân với kết quả dương tính trên 84% và biến chứng tràn khí màng phổi 14%, xuất huyết nặng 1%(2).
Năm 1974, David C. Levin đã thực hiện sinh thiết xuyên phế quản qua nội soi ống mềm, nhận thấy đây là một kỹ thuật dễ thực hiện, ít biến chứng, đạt hiệu quả cao (79%) và không cần kềm sinh thiết đặc biệt. Về sau, kỹ thuật này ngày càng phát triển, nhiều loại dụng cụ mới dùng để chọc hút những tổn thương cạnh khí phế quản, những tổn thương nốt đơn độc ngoại biên, chải các tổn thương khu trú hay lan tỏa. Tùy tính chất tổn thương mà người thầy thuốc cần có sự hướng dẫn của máy X quang 2 chiều có màn hình huỳnh quang tăng sáng hay không, đặc biệt những tổn thương ở thùy trên mà ống soi cứng không thể thực hiện được(14).
Năm 1977, Joseph H. Cunningham và cs tiến hành sinh thiết xuyên phế quản trên những bệnh nhân suy giảm miễn dịch với sự hướng dẫn của X quang cho kết qua dương tính trên 74% với biến chứng chảy máu 26% và tràn khí màng phổi là 19%(10).
Năm 1979, R. H. Poe và M. J. Upell đã tiến hành sinh thiết xuyên phế quản bằng kềm sinh thiết với độ nhạy cảm là 84% và độ đặc hiệu là 100%. Phương pháp được đánh giá là rất đáng tin cậy và ít biến chứng(18).
Năm 1983, phương pháp chọc hút xuyên phế quản còn giúp chẩn đoán và chia giai đoạn của ung thư phế quản, kể cả những bệnh nhân có trung thất dường như bình thường, nhưng đã di căn hạch kín đáo. Kopen Wang và Peter B. Terry tiến hành chọc hút xuyên phế quản, cho thấy 73% trường hợp giúp chẩn đoán và có giá trị trong chia giai đoạn K phế quản và theo dõi trước và sau điều trị đối với K tế bào nhỏ(34).
Năm 1988, Capt Gregg T. Anders và cs nghiên cứu so sánh sinh thiết xuyên phế quản có và không có hướng dẫn bởi X quang. Kỹ thuật sinh thiết xuyên phế quản không có X quang thích hợp cho những tổn thương lan tỏa trong khi sinh thiết có hướng dẫn của X quang nên dành cho những tổn thương khu trú. Sự khác biệt của 2 phương pháp không có X quang (67, 4%) và có X quang (72, 3%) không có ý nghĩa. Cả 2 phương pháp đều có biến chứng thấp, và kỹ thuật sinh thiết xuyên thành phế quản không có X quang có thể thực hiện tại giường bệnh(1).
Năm 1985, Deborah Shure và Peter F. Fedelli cho rằng những ung thư phế quản phát triển ở lớp niêm mạc và quanh phế quản gây hẹp và chèn ép từ ngoài rất khó chẩn đoán bằng kìm sinh thiết thông thường, vì không lấy được tổ chức bệnh lý. Ông dùng kim dễ chọc xuyên phế quản cho kết quả chẩn đoán cao 71% so với 55% dùng kềm sinh thiết và kỹ thuật không có biến chứng gì(28).
Ngoài ra, sinh thiết xuyên phế quản còn có thể thực hiện an toàn cho cả những bệnh nhân ngoại trú. Năm 1991, Luis Hernandes Blasco và cộng sự đã tiến hành 157 trường hợp sinh thiết xuyên phế quản bằng chải phế quản - phế nang với biến chứng xuất huyết trên 100 ml chiếm 2%, viêm phổi chiếm 2%, tràn khí màng phổi chiếm 1% và không có ca nào tử vong(4).
Ở Việt Nam, phương pháp sinh thiết xuyên phế quản được áp dụng lần đầu 1992 ở Viện Lao Trung Ương và Trung tâm Lao và Bệnh Phổi Phạm Ngọc Thạch 1994. Nhưng cả 2 nơi chỉ thực hiện mù mà không có sự hướng dẫn của X quang(55, 56).
Năm 1992, Nguyễn Chi Lăng và tiến hành sinh thiết xuyên phế quản không có sự hướng dẫn X quang (sinh thiết xuyên phế quản mù) cho kết quả dương tính là 27/46 trường hợp (58, 70%)(55).
Phương pháp chải phế quản-phế nang
Ðược thực hiện nhằm mục đích lấy mẫu xét nghiệm tế bào học và vi trùng học.
Phương pháp này thường làm kết hợp với phương pháp sinh thiết để nâng cao chất lượng chẩn đoán bệnh lý nội phế quản và nhu mô phổi, chủ yếu là các bệnh lý ác tính và nhiễm trùng.
Năm 1977, Joseph H. Cunningham và cộng sự tiến hành chọc xuyên ngực sinh thiết xuyên phế quản và chải phế quản trên 52 bệnh nhân suy giảm miễn dịch. Tác giả dùng kềm thông thường để sinh thiết xuyên phế quản, cho kết quả dương tính 74% đối với sinh thiết xuyên phế quản và và 28% đối với chải. Tác giả cho rằng kỹ thuật chải phế quản-phế nang đặc biệt có ích trên chẩn đoán virus, nấm(10).
Năm 1983, Diana Lewis Colemann và Peter M. Dodek đánh giá lợi ích của ống soi mềm trên bệnh nhân viêm phổi do P. carinii. Tác giả tiến hành 3 phương pháp sinh thiết xuyên phế quản, rửa phế quản-phế nang và chải phế quản cho kết quả dương tính cao đối với chải phế quản kết hợp với rửa phế quản-phế nang và sinh thiết xuyên phế quản (độ nhạy cảm 85%). Vì là bệnh diễn tiến rất nhanh nên cần có một phương pháp chẩn đoán sớm và điều trị ngay. Tác giả đề nghị nội soi phế quản ống mềm và các kỹ thuật lấy mẫu kết hợp nên là kỹ thuật chẩn đoán đầu tiên vì có độ nhạy cảm cao và biến chứng thấp(8).
Năm 1979, Dénis A. Cortese và John C. Mc Dougall đã tiến hành sinh thiết và chải trên 48 bệnh nhân K phổi ngoại biên có sự hướng dẫn của X quang cho kết quả dương tính 40% với chải phế quản, 46% với sinh thiết xuyên phế quản, 60% với sinh thiết xuyên phế quản kết hợp với chải(7).
Năm 1974, Robert H. Richardson và cộng sự tiến hành chải phế quản 163/200 bệnh nhân nghi ung thư cho kết quả 110/130 (85%) dương tính từ chải phế quản. U nhìn thấy cho chẩn đoán xác định 92% và u không nhìn thấy 78%(24).
Phương pháp rửa phế quản-phế nang
Phương pháp này được thực hiện từ vài chục năm nay bằng cách bơm một lượng nước vào cây phế quản qua ống soi cứng được gọi là rửa phế quản (bronchial lavage) để chẩn đoán và điều trị các bệnh nhiễm trùng phế quản. Lúc đầu rửa phế quản được dùng để giải phóng đàm mũ ở phế quản của bệnh nhân dãn phế quản.
Vincent là người đầu tiên báo cáo việc dùng một ống sonde vào trong phế quản người bình thường để rửa và giải phóng chất tiết. Về sau, người ta còn dùng tube Carlen’s có 2 nòng để rửa phế quản một bên phổi với lượng dịch lớn 1 - 3 lít để điều trị xơ nang, alveolar proteinosis và hen phế quản kháng điều trị.
Cantrell và cộng sự là những người đầu tiên rửa phế quản qua ống soi mềm 1973 ở những người tình nguyện có hút thuốc và không hút thuốc lá để đo thành phần tế bào và men cytosol(43).
Sự phát triển kỹ thuật rửa phế quản-phế nang qua ống soi mềm đã mở ra một thời kỳ mới trong chẩn đoán những bệnh lý nhu mô phổi chưa rõ nguyên nhân, đặc biệt những bệnh lý dị ứng miễn dịch, nhiễm trùng, bệnh ung thư bằng cách bơm dung dịch sinh lý ở nhiệt độ cơ thể vào vùng nhu mô phổi bệnh lý, mỗi lần 20 - 30 ml với lượng tổng cộng khoảng 200 - 300 ml. Dịch được rút ra ngay và xử lý theo yêu cầu chẩn đoán, như tìm tế bào ác tính, xét nghiệm vi trùng học, xét nghiệm miễn dịch học (đo CD3, CD4, CD8 v.v...), xác định các chất hòa tan trong dịch rửa.
Kỹ thuật thường được sử dụng đồng thời phương pháp sinh thiết xuyên phế quản làm tăng chất lượng chẩn đoán bệnh lý phổi lên rất nhiều và là một kỹ thuật không thể thiếu hiện nay trên thế giới(43, 45, 46, 48).
Tuy nhiên, ở Việt Nam phương pháp rửa phế quản-phế nang chỉ được sử dụng trong một số phạm vi chẩn đoán nhỏ hẹp như tìm tế bào ác tính, xét nghiệm vi trùng học. Vì điều kiện xét nghiệm miễn dịch học chưa đầy đủ nên việc đo các thành phần tế bào miễn dịch trong dịch rửa chưa thể thực hiện được.
Ngày nay người ta còn thực hiện rửa phế quản-phế nang để nghiên cứu trên bệnh nhân hen phế quản với độ an toàn cao và không biến chứng, giúp chúng ta hiểu biết rõ hơn về quá trình bệnh sinh của hen phế quản, giúp theo dõi và nghiên cứu các thuốc điều trị hen phế quản và kể cả điều trị trực tiếp những hen phế quản ác tính đe dọa tính mạng.
Tại Việt Nam, phương pháp rửa phế quản-phế nang được sử dụng chủ yếu để chẩn đoán bệnh lý ác tính và nhiễm trùng bằng cách bơm 10 - 20 ml dịch sinh lý vào vùng tổn thương và hút ra ngay. Phạm Long Trung và cộng sự dùng phương pháp rửa phế quản-phế nang để điều trị bệnh nhân sặc dầu hôi 1994(60) và chưa có một công trình nào thực hiện phương pháp rửa phế quản-phế nang qua ống soi mềm hay ống soi cứng để chẩn đoán những bệnh lý dị ứng miễn dịch dị ứng hay những bệnh lý chưa rõ nguyên nhân ở phổi vì không có đủ phương tiện phòng thí nghiệm và kinh nghiệm để xử lý dịch rửa phế quản-phế nang.