PHƯƠNG PHÁP NỘI SOI PHẾ QUẢN VỚI ỐNG SOI MỀM

(Flexible fiberbronchoscopy)

Trần Văn Ngọc *

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA PHƯƠNG PHÁP NỘI SOI PHẾ QUẢN

Cách nay hơn 2000 năm, Hippocrate đã gợi ý đặt nội khí quản khi bệnh nhân bị ngạt thở, và những dụng cụ để quan sát các lỗ tự nhiên của cơ thể được tìm thấy từ thời đại Pompeii.

Nhưng sự phát triển nội soi phế quản được đánh giá là rất chậm chạp cho tới thế kỷ 19, khi Horace Green (1846) thăm dò khí quản và phế quản lần đầu tiên. Ông giới thiệu những ghi nhận của mình ở Hội Nghi Ngoại Khoa New York năm 1847 nhưng bị bác bỏ và bị cho rằng điều đó không thể thực hiện được(5).

Cho đến gần 40 năm sau, ngày 30 tháng 3 năm 1897, giáo sư người Ðức, Gustav Killian dùng một ống soi cứng để gắp dị vật phế quản của một người công nhân xây dựng và được xem như người đầu tiên khai phá ngành nội soi phế quản(5, 39, 42, 43).

Sau đó, kỹ thuật này được áp dụng tại Mỹ do giáo sư Chevalier Jackson năm 1907 và sau đó tại Pháp, Anh v.v...(5).

Năm 1954, Hopkine và Kepany (Anh quốc), chứng minh sự truyền ảnh qua một bó sợi quang học có thể uốn cong được và đặt tên là fiberscope(5).

Năm 1957, Eveny Jones và Hirchowitz đã chế tạo ra 1 ống nội soi mềm đơn giản để soi dạ dày. Tuy nhiên, nhu cầu phát triển thêm nữa dụng cụ này đã dừng lại ở Anh, nhưng sau đó nhanh chóng phát triển sang Mỹ và đặc biệt là Nhật bản(5).

Năm 1966, giáo sư người Nhật Shigeto Ikeda, lần đầu tiên tiến hành nội soi phế quản với ống soi mềm bằng sợi quang học để chẩn đoán bệnh lý phế quản. Năm 1968, ông giới thiệu phương pháp nội soi này lần đầu tiên tại Hội Nghị Tai Mũi Họng Thế Giới tổ chức tại Copenhagen Ðan Mạch tháng 8 năm 1968. Từ đó, ống nội soi mềm được sử dụng phổ biến trên thế giới, tại Mỹ 1972, tại Ðức 1972 (Hurly), ở Anh 1971 do Stewart Clarke ở bệnh viện Brompton(5, 42, 43, 56).

Ðến nay ống soi mềm, vì ích lợi của nó cho bệnh nhân và dễ thực hiện nên đã dần dần thay thế hoàn toàn ống soi cứng trong chẩn đoán bệnh lý phế quản, đặc biệt là những phế quản nhỏ, không thể quan sát được bằng ống soi cứng, các phương pháp rửa phế quản-phế nang, sinh thiết xuyên thành phế quản để chẩn đoán những bịnh lý nhu mô phổi chưa rõ nguyên nhân và kể cả trong điều trị như gắp dị vật hay điều trị xẹp phổi cấp do tắc đàm nhớt, v.v...(3, 8, 15, 17, 20, 38, 39, 41, 46, 48, 49).

Tại Việt Nam, phương pháp nội soi phế quản với ống soi mềm được thực hiện đầu tiên năm 1974 tại Trung Tâm Lao và Bệnh Phổi Phạm Ngọc Thạch, chủ yếu để chẩn đoán những bệnh lý nội phế quản, năm 1976 tại khoa Tai Mũi Họng Quân Y Viện 108(40, 57).

Sau 1975, vì điều kiện thiếu kinh phí và phương tiện, ống soi mềm bị hư nên không tiếp tục sử dụng và chủ yếu dùng ống soi cứng để chẩn đoán bệnh lý hô hấp. Cho tới một vài năm gần đây, ống soi mềm dần dần được trang bị lại, chủ yếu tại các bệnh viện lớn ở Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh.

Nhưng việc trang bị dụng cụ không đồng bộ và thiếu các phương tiện nên chỉ tiến hành các phương pháp chẩn đoán đơn giản nhất như sinh thiết nội phế quản, hút đàm tìm vi khuẩn, chưa tận dụng hết mọi ưu thế của ống soi mềm trong chẩn đoán và điều trị bệnh lý hô hấp.

Những năm sau này tại Tp. Hồ Chí Minh, các bác sĩ nội soi đã áp dụng nhiều kỹ thuật để chẩn đoán và điều trị như sinh thiết xuyên phế quản, rửa phế quản phế nang, điều trị gắp dị vật qua ống soi mềm, điều trị xẹp phổi cấp tính ở bệnh nhân sau mổ hoặc hôn mê v. v...

CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ÐOÁN QUA SOI PHẾ QUẢN VỚI ỐNG SOI MỀM

Các phương pháp sinh thiết

Sinh thiết phế quản

Là phương pháp thường dùng nhất, được thực hiện qua ống soi cứng hoặc ống soi mềm, để chẩn đoán những bất thường ở niêm mạc đường hô hấp.

Từ khi ống soi mềm được sử dụng lần đầu tiên để chẩn đoán bệnh lý hô hấp, phương pháp sinh thiết nội phế quản được sử dụng rất rộng rãi, đạt hiệu quả cao và an toàn cho bịnh nhân.

Chỉ định

* Tổn thương phế quản nghi ngờ ung thư phế quản.

* Tổn thương phế quản khác chưa xác định nguyên nhân.

Quá trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam:

Năm 1968, Ikeda đã báo cáo công trình chẩn đoán ung thư phế quản qua nội soi ống mềm tại Hội Nghị Tai Mũi Họng Quốc Tế. Trong 360 trường hợp ung thư phế quản, quan sát được qua ống soi mềm 299 ca, trong đó có 140 ca không nhìn thấy được qua ống soi cứng(5).

Năm 1978, Robert B. Dreisin tiến hành sinh thiết niêm mạc phế quản đối với các tổn thương trung tâm, kết quả chung đạt được là 89%, chẩn đoán xác định ung thư phế quản là 100% đối với u trong lòng phế quản quan sát được(5).

Năm 1984 Mac Dougall và Cortese tiến hành sinh thiết u nội phế quản và xác định chẩn đoán ung thư phế quản là 90%(5).

Vì kềm sinh thiết qua nội soi ống mềm tương đối nhỏ # 2 mm, nên hiệu quả chẩn đoán của phương pháp sinh thiết phụ thuộc vào số lượng mẫu bệnh và kích thước của từng mẫu sinh thiết.

Năm 1982, John Popovich JR đã tiến hành sinh thiết 46 bệnh nhân, 26 ca có tổn thương trung tâm và 20 ca có tổn thương ngoại biên, mỗi bệnh nhân sinh thiết trung bình 6 mẫu. Ðối với tổn thương trung tâm 114/156 mẫu có kết quả dương tính (73%), 42/116 mẫu của tổn thương ngoại biên dương tính (36%). Qua tính toán, để đạt 99% dương tính cần phải sinh thiết ít nhất 4 mẫu(19).

Năm 1983, Deborah Shure cho thấy 3 mẫu sinh thiết là đủ để đạt chẩn đoán tối ưu (99, 86%).

Năm 1992, Nguyễn Chi Lăng và cộng sự đã sinh thiết những tổn thương nghĩ đến K phế quản với 66/93 trường hợp dương tính, nhưng tác giả không ghi nhận số lần sinh thiết cho mỗi trường hợp(55).

Năm 1991, Gianfranco Buccheri và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu 1045 trường hợp ung thư phế quản để xem xét mối quan hệ hình thái học nội soi, phân loại bệnh học và chẩn đoán. 782/1045 trường hợp có kết quả giải phẫu bệnh, ông nhận thấy tỉ lệ sinh thiết dương tính bằng kìm sinh thiết là 79%. Chẩn đoán đạt kết quả cao nhất khi tổn thương là một khối u sùi hay xâm lấn niêm mạc (72%). Những tổn thương hoại tử (83%) hay chèn ép phế quản, tổn thương không đặc hiệu cho kết quả chẩn đoán rất thấp(6).

Tại Việt Nam, một số công trình sinh thiết phế quản đã được công bố.

Trần Ngọc Thạch (1989 - 1993) nội soi 2000 trường hợp tại Trung Tâm Lao và bịnh Phổi Phạm Ngọc Thạch với 325 sinh thiết khối u, xác định chẩn đoán ung thư phế quản 26%.

Nguyễn chi Lăng (1993)đã nghiên cứu phương pháp sinh thiết phế quản trên nhóm bịnh nhân nghi ung thư phế quản và đạt kết quả chẩn đoán 70, 93%.

Bùi Xuân Tám và Ðồng khắc Hưng (1996) Trong công trình nghiên cứu ung thư phế quản, đạt kết quả chẩn đoán với độ nhạy là 74% và độ đặc hiệu là 71%.

Sinh thiết phổi xuyên phế quản

Chỉ định:

* Bịnh lý phế nang-mô kẽ phổi chưa rõ nguyên nhân

* Tổn thương nhu mô phổi ở BN suy giảm miễn dịch

* Tổn thương khu trú ngoại biên phổi

* Bịnh lý cạnh khí phế quản (u, hạch).

* Ung thư phế quản xâm lấn dưới niêm mạc

Có thể thực hiện sinh thiết phổi xuyên phế quản mù dành cho những tổn thương lan toả ở nhu mô phổi hoặc những tổn thương khu trú trên một vùng rộng lớn như cả phân thùy hay thùy. hoặc sinh thiết phổi xuyên phế quản có sự hướng dẫn của X quang, được dành cho những tổn thương khu trú ở ngoại biên mà phương pháp sinh thiết mù không thể thực hiện đúng ngay chỗ tổn thương được.