KHẢO
SÁT HAI NHÓM "XƠ HOÁ NHANH" VÀ "XƠ HÓA CHẬM"
Ở CÁC BỆNH NHÂN VIÊM GAN SIÊU VI C MÃN TÍNH
Bùi Hữu Hoàng*
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi là làm sáng tỏ và phân biệt hai nhóm bệnh nhân khác nhau về diễn tiến tự nhiên của viêm gan siêu vi C. Trong 240 bệnh nhân bị viêm gan siêu vi C mãn tính tại Bệnh viện Haut-Lévêque (Pessac/Bordeaux) từ 01/96-08/98, 26 bệnh nhân có diễn tiến bệnh rất cực tính và thời gian diễn tiến được biết tương đối chính xác. Trong đó, 9 bệnh nhân có tình trạng "xơ hóa nhanh" (XHN) và 17 bệnh nhân "xơ hóa chậm" (XHC). Qua nghiên cứu, chúng tôi ước tính thời gian dự đoán sẽ tiến triển sang xơ gan của nhóm "XHN" là 6 năm và của nhóm "XHC" là 80 năm nhưng chưa ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm nói trên liên quan đến các yếu tố như tuổi của bệnh nhân lúc bị nhiễm, phái tính, tình trạng dinh dưỡng và phương cách lây truyền bệnh
SUMMARY
EVIDENCE OF RAPID FIBROSIS AND SLOW FIBROSIS IN CHRONIC HEPATITES
Our aim was to clarify and distinguish two groups in the natural history of Hepatitis C. Of the 240 Chronic Hepatitis C patients in Haut-Lévêque Hospital (Pessac/Bordeaux) from 01/96 to 08/98, 26 patients had the extreme evolution and the well-known duration of infection. Among theme, 9 patients had very "slow fibrosers" (SF) and 17 patients very "rapid fibrosers" (RF). By this study, we expected the progression of "SF" to cirrhosis was 80 years and that of "RF" was 6 years, however we didn’t recognize the statistical significant differentiation between two groups in concern to the risk factors ơf fibrosis progression as: age at infection, sex, nutrition status and cause of infection.
ÐẶT VẤN ÐỀ
Viêm gan siêu vi C (VGSVC) hiện là một vấn đề y tế đang được quan tâm do tần suất bệnh lưu hành chiếm khoảng 3% dân số trên thế giới (170 triệu người đang bị nhiễm HCV mãn tính)(5) và bệnh thường diễn tiến tự nhiên sang viêm gan mãn (khoảng 80%) với nguy cơ cao tiến triển sang xơ gan và ung thư gan nguyên phát(6). Ở những bệnh nhân bị VGSVC mãn tính, người ta có thể phân lập ra ba nhóm bệnh nhân khác nhau tùy theo diễn tiến tự nhiên của bệnh(11,21):
* Các bệnh nhân được gọi là "xơ hóa chậm" (fibroseurs lents) có thời gian nhiễm bệnh trên 20 năm nhưng tổn thương xơ hóa trên mô học lại rất ítê * Các bệnh nhân được gọi là "xơ hóa nhanh" (fibroseurs rapides) sẽ tiến triển sang xơ gan trong thời gian dưới 10 năm.
* Các bệnh nhân có thời gian diễn tiến bệnh trung gian khi tiến trình xơ gan xảy ra từ 10-20 năm.
Người ta ghi nhận một số yếu tố có liên quan đến diễn tiến tự nhiên của VGSVC(7,21): yếu tố liên quan đến siêu vi C như genotype của siêu vi, nồng độ siêu vi trong máu...; yếu tố liên quan đến môi trường như nghiện rượu, tình trạng dinh dưỡng...; yếu tố liên quan đến bệnh nhân: tuổi lúc bị nhiễm bệnh, phái tính, các bệnh lý phối hợp, di truyền hoặc tình trạng đáp ứng miễn dịch của cơ thể...
Việc nghiên cứu sự khác biệt về các yếu tố có liên quan đến tiến trình xơ hóa gan của hai nhóm bệnh nhân "xơ hoá nhanh" và "xơ hóa chậm" có thể giúp chúng ta giải thích được phần nào sự khác biệt về tiến trình xơ gan ở những bệnh nhân bị VGSV C mãn tính.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
1. Phân lập hai nhóm "xơ hóa nhanh" và "xơ hóa chậm" ở các bệnh nhân VGSVC mãn tính.
2. Phân tích sự khác biệt về các yếu tố có liên quan đến diễn tiến tự nhiên của hai nhóm bệnh nhân nói trên.
ÐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Ðối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân VGSV C mãn tính nhập tại khoa Tiêu hóa - Gan Mật, Bệnh viện Haut-Lévêque (Pessac/Bordeaux) được làm sinh thiết gan trong thời gian từ 01/1996 đến 08/1998.
* Tiêu chuẩn chọïn bệnh nhân nghiên cứu
1) Xét nghiệm tìm anti HCV (+) bằng kỹ thuật ELISA thế hệ ba và xét nghiệm tìm HCV RNA (+) bằng kỹ thuật PCR với các men transaminase tăng trên 6 tháng.
2) Thời điểm (năm) và phương cách lây nhiễm được ghi nhận với độ tin tưởng tương đối cao.
3) Bệnh nhân được làm sinh thiết gan để đánh giá số điểm (score) mô học METAVIR (xem Bảng 1).
4) Chỉ được điều trị bằng Interferon-alpha sau khi đã sinh thiết gan.
Sau khi áp dụng các tiêu chuẩn chọn bệnh, chúng tôi phân biệt ra hai nhóm:
a) Nhóm xơ hóa chậm: (XHC) có thời gian nhiễm bệnh trên 15 năm nhưng trên mô học không có các vách xơ (score METAVIR = F0 hay F1)
b) Nhóm xơ hóa nhanh: (XHN) đã có tình trạng xơ hóa nặng (score METAVIR = F3 hay F4) khi bệnh diễn tiến đưới 10 năm.
Bảng 1: số diểm METAVIR
Số điểm A: hoạt tính viêm (Activité)
|
Hoại tử phân thùy Hoại tử từng phần |
Không có |
Vừa |
Nặng |
|
|
0 |
1 |
2 |
||
|
Không |
0 |
A0 |
A1 |
A2 |
|
Ít |
1 |
A1 |
A1 |
A2 |
|
Vừa |
2 |
A2 |
A2 |
A3 |
|
Nặng |
3 |
A3 |
A3 |
A3 |
Số điểm F: mức độ xơ (Fibrose):
F0: Không có tổ chức xơ
F1: Xơ khoảng cửa không có vách xơ
F2: Xơ khoảng cửa có ít vách xơ
F3: Nhiều vách xơ nhưng chưa xơ gan
F4: Xơ gan
* Tiêu chuẩn loại trừ
1) Cóù thêm các bệnh lý gan khác phối hợp (viêm gan tự miễn, xơ gan ứ mật nguyên phát, nhiễm sắt mô (hémochromatose), viêm gan do thuốc hoặc các bệnh lý có ảnh hưởng đến gan như suy tim phải...).
2) Ðồng nhiễm các siêu vi gây viêm gan khác như HBV, HDV,HIV, CMV, EBV...
3) Uống rượu nhiều (> 50 g/ngày)
Phương pháp
Ðây là phương pháp nghiên cứu cắt ngang hồi cứu.
* MÔ TẢ: sự phân bố bệnh nhân trong hai nhóm theo tuổi lúc bị nhiễm, phái tính, tình trạng dinh dưỡng, thời gian diễn tiến bệnh, phương cách lây truyền, genotype siêu vi.
* PHÂN TÍCH: sự khác biệt giữa hai nhóm về các yếu tố nêu trên. Do mẫu nghiên cứu nhỏ, chúng tôi sử dụng Test c 2 có điều chỉnh và Test de Mann-Whitney để xử lý số liệu thông kê.