Kiểm soát các rối loạn biến dưỡng
Kiểm soát đường huyết ở những bệnh nhân tiểu đường
Kiểm soát đường huyết càng ở mức bình thường thấp chừng nào thì thời điểm xuất hiện tổn thương cầu thận (đạm niệu vi lượng (+)), càng bị đẩy lùi xa chừng nấy. Năm 1993, nhóm nghiên cứu kiểm soát bệnh tiểu đường và biến chứng (DCCT: Diabetes control and complications trial) nghiên cứu trong 10 năm trên những bệnh nhân tại tiểu đường type I được chia làm 2 quần thể (cohort): quần thể được phòng ngừa nguyên phát (primary prevention cohort): 726 bệnh nhân và quần thể được can thiệp thứ phát (secondary intenvation cohort): 715 bệnh nhân
Hai biện pháp điều trị được áp dụng điều trị quy ước để giữ cho bệnh nhân không có triệu chứng và HbA1c < 13,11% so với nhóm được điều trị tích cực để giử HbA1c < 6,05%. Kết quả cho thấy ở nhóm điều trị tích cực tỉ lệ bị biến chứng trên mạch máu vi cầu giảm rất nhiều so với nhóm điều trị quy ước, nhưng bệnh nhân phải chịu các phản ứng do hạ đường huyết trầm trọng và tăng cân.
Tóm lại, để phòng ngừa nguyên phát bệnh thận do tiểu đường cần thực hiện 2 việc sau:
- Kiểm soát đường huyết: mức tối hảo với HbA1c được giử rất gần với mức bình thường với tác dụng phụ của hạ đường huyết trên tần suất và mức độ chấp nhận được.
- Với những bệnh nhân không bị tăng huyết áp, không có tiểu đạm vi lượng dù đã kiểm soát đường huyết ở mức tối hảo mà vẫn còn tăng lọc vi cầu (glomemlar hyperfiltration) cần được cho ngay ACEI và 1 chế độ ăn giảm đạm thấp, trừ trường hợp có chống chỉ định.
Ðể phòng ngừa thứ phát trên những bệnh nhân tiểu đường có tăng huyết áp và đã bị tiểu đạm rõ hoặc GFR < 60% mức bình thường, cần điều trị để hạ dần huyết áp chủ yếu với ACEI (có thể kết hợp thêm với lợi tiểu, ức chế b , đối kháng Calci hoặc đối kháng a (a antagomist) nếu một mình ACEI không có hiệu quả đạt huyết áp trung bình (MAP) ở mức £ 97 mmHg. Có thể giữ huyết áp trung bình ở mức thấp là 92mmHg, đặc biệt có ích với những bệnh nhân tiểu đạm > 500mg/ngày, người ta thấy bệnh nhân có thể chịu đựng được tốt mức huyết áp thấp này. Cần cẩn thận với những trường hợp hẹp động mạch hệ thống, động mạch thận, xơ vữa động mạch nhiểu hoặc có huyết áp giao động.
Ðiều trị loạn dưỡng mỡ
Cho đến nay dù chưa có bằng chứng rõ rệt là điều trị loạn dưỡng mỡ ngăn chận tiến triển của suy thận nhưng biểu hiện hay gặp này ở các bệnh nhân thận (đặc biệt hội chứng thận hư) vẫn là một yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch ảnh hưởng gián tiếp đến tình trạng suy thận và cần phải được điều trị.
Vai trò của ACEI một lần nữa qua tác dụng làm giảm đạm niệu cũng giúp giảm được LDL và triglycerides. Vì thế ngoài Statins, thuốc ACEI cần được sử dụng trong điều trị loạn dưỡng mỡ ở những bệnh nhân có tiểu đạm. Cuối cùng, sau khi điều chỉnh tất cả các yếu tố nguy cơ và điều trị ngăn chận suy thận tiến triển, cần theo dõi chức năng thận ít nhất mỗi 4 tháng 1 lần với GFR, cũng nên dùng máy đo huyết áp di động 24 giờ để xác định được huyết áp tối hảo cho mỗi bệnh nhân.
Trong một tương lai gần nhiều biện pháp điều trị mới đầy hứ hẹn như thuốc đối kháng ổ nhận Endothelin (endothelin receptor antagonist) giúp cải thiện tình trạng tưới máu thận đang được thử nghiệm trên lâm sàng cùng với những nghiên cứu để hiểu rõ cơ chế gây xơ hóa thận đưa đến việc xử dụng các thuốc ức chế men ly giải protein (Inhibiturs of proteolytic enzymes) giúp tái tạo ra chủ mô thận (renal tissue remoldeling) có thể giúp tránh được suy thận giai đoạn cuối trên những bệnh nhân có bệnh thận.
TÀI LIỆU THAM KHẢO