Công cụ thu thập và phân tích số liệu:

Máy siêu âm

Máy siêu âm ALOKA (đầu dò bụng 3,5 MHz và đầu dò âm đạo 7,5 MHz)

Máy siêu âm màu SIEMENS (đầu dò bụng 3,5 MHz và đầu dò âm đạo 7,5 MHz)

Máy siêu âm màu TOSHIBA (đầu dò bụng 3,75 MHz)

Máy định lượng CA

IM x CA 125 TM, CA 15-3 của hãng ABBOTT

Số liệu được quản lý và phân tích bằng máy vi tính, sử dụng phần mềm SPSS v7.5 và MS-Excel 97

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Có 132 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, trong đó có 3 trường hợp loại trừ (do không có kết quả bệnh lý, mổ thám sát, kết quả bệnh lý không rõ ràng). Số bệnh nhân thật sự nghiên cứu là 129 người, trong đó 100 trường hợp lành tính (77,5%) và 29 trường hợp ác tính (22,5%). Tần suất ác tính 22,5% trong nghiên cứu tương ứng với những công trình nghiên cứu của các tác giả khác như Depriest - PD (26,03%)(4), Chou - CY (22,12%)(2), Antonic - J (25,35%)(1), Salle - B (12,08%)(11). Phân loại giải phẫu bệnh được trình bày trong bảng 1.

Bảng 1 : Phân bố mẫu nghiên cứu theo kết quả Giải phẫu bệnh

Giải phẫu bệnh

Số trường hợp

Tổng

U lành buồng trứng

 

73

U biểu mô

33

 

U mô đệm dây giới bào:

2

 

U tế bào mầm

38

 

U ác buồng trứng

 

28

U ác biểu mô

21

 

U tế bào mầm

5

 

U mô đệm dây giới bào

2

 

U giáp biên ác

 

1

Tình trạng giả u *

 

17

Không phải buồng trứng **

 

10

* Nang hoàng thể xuất huyết, Nang noãn buồng trứng, Tăng sản mô đệm buồng trứng, Nang nước cạnh tai vòi, Viêm lao buồng trứng

** Ứ dịch tai vòi, U xơ tử cung, Viêm lao tử cung, Sarcôm cơ trơn tử cung

Bảng 2 : Ðộ nhạy và chuyên của từng phương pháp chẩn đoán

PP chẩn đoán

Nhạy %

Chuyên %

SA hình ảnh 2/5

96,6

51,0

SA hình ảnh 3/5

82,8

88,0

SA màu

92,9

61,1

CA 125

69,0

81,0

CA 15-3

24,1

99,0

PP: phương pháp; SA: siêu âm

2/5, 3/5: số tiêu chuẩn để xác định ác tính

Kết quả tính toán độ nhạy và độ chuyên của từng phương pháp chẩn đoán được trình bày trong bảng 2. Siêu âm hình ảnh dùng 2/5 tiêu chuẩn có độ nhạy cao nhất 96,6%, trong khi đó CA 15-3 có độ đặc hiệu cao nhất (99,0%).

Khi sử dụng 2/5 tiêu chuẩn để chẩn đoán trong siêu âm hình ảnh thì độ nhạy tuy cao nhưng độ chuyên rất thấp, không phù hợp trên lâm sàng; với ngưỡng 3/5 tiêu chuẩn thì độ nhạy tương đương và độ chuyên cao hơn các nghiên cứu của các tác giả khác trên thế giới(6,8,12). Ðối với siêu âm màu, kết quả thu được tương tự như các tác giả khác(6,11).

Với ngưỡng quy ước 35 UI/mL, CA 125 thể hiện vai trò là một xét nghiệm khá chuyên biệt cho ung thư buồng trứng. Ðộ nhạy và độ chuyên tương đương nghiên cứu của các tác giả khác(6,8). Cũng cần lưu ý những trường hợp dương tính giả của CA 125 tập trung chủ yếu vào u lạc nội mạc (11/17). Nếu có thể loại trừ bệnh lý này trước khi thực hiện xét nghiệm thì độ đặc hiệu của CA 125 sẽ còn được nâng cao.

Khi so sánh đặc tính của CA 15-3 trong nghiên cứu với kết quả của các tác giả khác(3,5), độ chuyên biệt trong nghiên cứu đạt được cao hơn, trong khi độ nhạy lại thấp hơn. Sự khác biệt có thể do máy RIA phóng xạ mà các tác giả khác sử dụng có độ nhạy cao hơn máy huỳnh quang IMx dùng trong nghiên cứu này. Ðối chiếu kết quả giải phẫu bệnh lý cho thấy các trường hợp âm tính giả của CA 15-3 có thể gặp ở mọi loại u.

Ngoài ra, sự thay đổi độ nhạy và độ chuyên của xét nghiệm CA 125 và CA 15-3 ở những ngưỡng khác nhau cũng rất đáng lưu tâm. Bảng 3 cho thấy nếu nâng ngưỡng giá trị chẩn đoán lên 65 UI/ml thì cho phép nâng cao độ chuyên của thử nghiệm lên (92%) và độ nhạy không giảm nhiều (62,1%) so với mức 35 UI/ml là ngưỡng thông dụng hiện nay. Còn với CA 15-3 nếu hạ thấp ngưỡng chẩn đoán xuống 20 UI/ml thì độ nhạy tăng cao (52%) và độ chuyên hầu như không đổi (92%) so với mức 30UI/ml.

Bảng 3 : Ðộ nhay và chuyên của CA 125 và CA 15-3 ở những ngưỡng khác nhau

 

Ngưỡng (UI/ml)

Nhạy%

Chuyên%

CA 125

35

69,0

81,0

65

62,1

92,0

95

51,7

95,0

125

41,4

97,0

CA 15 - 3

20

51,7

92,0

30

24,1

99,0

Ðể tăng giá trị chẩn đoán, các phương pháp trên được phối hợp với nhau và với lâm sàng. Từng cách phối hợp cũng được tính toán độ nhạy, độ chuyên và so sánh với nhau (bảng 4). Có thể thấy độ nhạy và độ chuyên của từng phương pháp được cải thiện rõ rệt khi phối hợp với những nghi ngờ trên lâm sàng, trong khi phối hợp giữa các xét nghiệm với nhau không cho thấy hiệu quả rõ rệt so với dùng riêng từng phương pháp. Phối hợp giữa lâm sàng và siêu âm màu có độ nhạy và độ chuyên cao nhất.

Bảng 4 : Ðộ nhạy và độ chuyên của từng cách phối hợp chẩn đoán

Phối hợp

Nhạy%

Chuyên%

LS và CA 125

96,6

71,0

LS và SA 3/5

96,6

75,0

LS và SA màu

96,6

80,0

CA 125 và CA 15 - 3

79,3

81,0

CA 125 và SA 3/5

89,7

71,0

CA 125 và SA màu

93,1

77, 0

LS, CA 125 và SA 3/5

96,6

64,0

LS, CA 125 và SA màu

96,6

70,0

LS: lâm sàng; SA: siêu âm

2/5, 3/5: số tiêu chuẩn để xác định ác tính

Trên thực tế lâm sàng, giá trị tiên đoán của xét nghiệm là điều người bác sĩ phải biết khi nhận định kết quả. Giá trị này không chỉ phụ thuộc vào đặc tính của xét nghiệm (độ nhạy, độ chuyên) mà còn phụ thuộc vào tần suất lưu hành bệnh trong dân số được xét nghiệm. Nghiên cứu đã thử tính giá trị tiên đoán của các xét nghiệm ở những mức tần suất lưu hành khác nhau. So sánh trung bình giá trị tiên đoán, chúng tôi nhận thấy ở nơi có tần suất lưu hành ung thư buồng trứng thấp (trong cộng đồng hoặc các bệnh viện phụ sản) siêu âm hình ảnh tỏ ra có ưu thế hơn các phương pháp chẩn đoán khác; ngược lại, ở nơi có tần suất lưu hành ung thư buồng trứng cao (như ở Trung Tâm Ung Bướu) việc phối hợp giữa lâm sàng và siêu âm màu, siêu âm hình ảnh tỏ ra có ưu thế hơn cả.