Nguyễn Thị Ngọc Phượng*, Trần Thị Lợi*, Vũ Thị Kim Chi**
Nghiên
cứu dự đoán độ lành ác của khối u
buồng trứng bằng siêu âm và CA 125, CA 15-3 trong huyết
thanh được tiến hành từ tháng 04/1999 đến 10/1999 tại hai
Bệnh viện: Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ và Trung tâm Ung Bướu
TP.Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy với ngưỡng quy ước, siêu
âm hình ảnh có độ nhạy 82,8%, độ chuyên 88%; siêu âm màu
có độ nhạy 92,9%, độ chuyên 61,1%; CA 125 có độ nhạy 69%,
độ ch.uyên 81%; CA 15-3 có độ nhạy 24,1%, độ chuyên 99%. Việc
so sánh trung bình giá trị dự báo của các phương pháp trên
cho thấy siêu âm hình ảnh phù hợp cho nơi có tần suất lưu
hành ung thư buồng trứng thấp, siêu âm màu nên ưu tiên
chọn ở nơi có tần suất lưu hành bệnh này cao. Riêng về
CA 125 và CA 15-3 nên linh động chọn lựa các ngưỡng giá trị
để đạt độ chính xác thích hợp.
Predict
the malignancy of ovarian tumors using ultrasonography,
CA 125 and CA 15-3 in serum
The study "Predict the malignancy of ovarian tumors using ultrasonography, CA 125 and CA 15-3 in serum" was carried out from April to October 1999 at two hospitals: Từ Dũ Obstetric-Gynecologic Hospital and Tumor Center of Hochiminh City. The result has shown that at the conventional thresholds, figure sonography has the sensitivity of 82.8% and the specificity of 88%; the sensitivity and specificity of Doppler sonography are 92.9% and 61.1%; of CA 125 are 69% and 81%; and of CA 15-3 are 24.1% and 99%, respectively. The mean predictive values of each diagnostic method were calculated and compared at different prevalences. On the basis of mean predictive values, figure sonography should be a method of choice in low prevalence population, while Doppler sonography should be used in high prevalence population. The cut-off points of CA 125 and CA 15-3 could be flexibly set in order to obtain an appropriate accuracy.
Khối u buồng trứng là một bệnh lý tương đối thường gặp ở phụ nữ trong mọi lứa tuổi, nguy cơ xảy ra u buồng trứng trong cuộc sống là 5% - 7%(10). Mặc dù tần suất ác tính của khối u buồng trứng không cao, nhưng tỷ lệ ác tính gia tăng theo tuổi, chiếm tỷ lệ 0,5% sau 75 tuổi(9).
Theo thống kê của Hội ung thư thành phố Hồ Chí Minh năm 1998 thì ung thư buồng trứng chiếm tỷ lệ 3,8%, đứng hàng thứ 8 trong tổng số các ung thư ở phụ nữ Việt Nam(7). Ung thư buồng trứng là bệnh có tiên lượng xấu vì cho xâm nhiễm phúc mạc sớm, việc chẩn đoán lại khó và chậm, hơn nữa, điều trị các giai đoạn muộn của ung thư buồng trứng là việc làm rất khó khăn, phức tạp và tốn kém. Với những phương pháp và công cụ điều trị hiện tại, tỷ lệ sống còn sau 5 năm chỉ là 30%(9). Do đó, đã từ lâu, vấn đề chẩn đoán sớm bản chất, độ lành ác của khối u buồng trứng vẫn là một câu hỏi có tính thời sự, làm đau đầu các nhà phụ khoa vì nó giúp giải quyết nhiều vấn đề trong thái độ can thiệp phẫu thuật và theo dõi bệnh nhân.
Gần đây, siêu âm chẩn đoán đã có nhiều tiến bộ đáng kể, trở thành phương tiện tầm soát phổ biến. Với sự phát triển của siêu âm màu bản chất khối u được khảo sát sâu hơn. Chất đánh dấu sinh học bướu cũng được làm khá rộng rãi tại các bệnh viện chuyên khoa, đặc biệt là vai trò của CA 125 trong việc dự đoán và theo dõi ung thư buồng trứng.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là khả năng chẩn đoán thực sự của các biện pháp này trên tình hình bệnh lý của cộng đồng dân cư thành phố Hồ Chí Minh chưa hề được tổng kết. Nghi ngờ trên siêu âm còn dựa nhiều vào kinh nghiệm và chủ quan của người đọc trên cơ sở nhiều nguồn tài liệu khác nhau; cũng như ngưỡng để phân biệt kết quả âm tính hay dương tính của các chất đánh dấu sinh học chỉ mới là những số liệu nghiên cứu ở nước ngoài.
Trong bối cảnh đó, nghiên cứu này được thực hiện mục tiêu khảo sát các giá trị của các phương pháp chẩn đoán Siêu âm hình ảnh, Siêu âm màu, CA 125 và CA 15 - 3 trong huyết thanh trong dự đoán độ lành ác của khối u buồng trứng.
Với độ tin cậy 95%, sai số 0,07 và ước lượng độ chuyên của phương pháp là 80%, cỡ mẫu tính được là 126 người. Thực tế, mẫu chúng tôi gồm 132 người được chọn theo phương pháp chọn mẫu kế tiếp các bệnh nhân nhập viện có chỉ định mổ vì khối u buồng trứng tại Bệnh Viện Từ Dũ và Trung tâm Ung Bướu trong thời gian tiến hành nghiên cứu (tháng 4 - 10/1999). Bệnh nhân có khối u buồng trứng kèm thai kỳ hoặc kèm bệnh lý ung thư cổ tử cung, ung thư tụy, đường mật, dạ dày, gan, phổi, vú, đại tràng, viêm nhiễm vùng chậu, viêm tuỵ tạng, viêm gan, suy thận được loại trừ.
- Hội chẩn, khám lâm sàng, siêu âm trước mổ với siêu âm ngã bụng và đầu dò âm đạo.
- Chọn ngẫu nhiên một số trường hợp nghĩ u lành và chọn mẫu kế tiếp các trường hợp nghi ngờ ung thư để làm siêu âm màu.
- Xét nghiệm định lượng CA 125 và CA 15 - 3 trong huyết thanh trước mổ.
- Phẫu thuật bóc khối u buồng trứng hoặc cắt hoàn toàn tử cung và hai phần phụ có kèm sinh thiết mạc nối, hạch... (trong trường hợp ung thư).
- Bệnh phẩm được gởi giải phẫu bệnh để cho chẩn đoán cuối cùng.
Ghi nhận các phát hiện trên lâm sàng do các bác sĩ tham gia hội chẩn mô tả (báng bụng, kích thước, độ di động... của khối u)
Khảo sát 2 trường hợp: khi có 2 và khi có 3 trong 5 yếu tố sau:
· Thành của khối u dày (> 3 mm)
· Chất chứa bên trong không đồng nhất
· Có nhiều vách ngăn (> 3 vách ngăn)
· Chồi sùi trong hoặc ngoài nang
· Có kết hợp với báng bụng
Khi có 1 trong 3 yếu tố sau:
Hiện diện luồng siêu âm màu bên trong khối u, phổ động mạch
IR < 0,4
IP < 1
Khi nồng độ trong huyết thanh > 35UI/ml (khảo sát thêm ở các mức nồng độ 65; 95; 125UI/ml)
Khi nồng độ trong huyết thanh > 30 UI/ml (khảo sát thêm ở mức nồng độ 20 UI/ml)
Từng phương pháp chẩn đoán được tính các chỉ số về độ nhạy, độ chuyên, giá trị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âm