LIMPHOM KHÔNG HODGKIN: khảo sát phenotyp miễn dịch

Phan Chiến Thắng**, Hứa Thị Ngọc Hà *, Nguyễn Thị Hồng Nguyệt*, Nguyễn Sào Trung*

TÓM TẮT

Mở đầu: Xuất độ của các loại limphom không Hodgkin khác nhau ở các nước trên thế giới, hiện đang có khuynh hướng gia tăng. Ở Việt Nam, limphom không Hodgkin cũng không hiếm gặp. Ðây là nghiên cứu đầu tiên ở TP. Hồ Chí Minh về phenotyp miễn dịch khi khảo sát về sự phân bố của các loại limphom không Hodgkin.

Bệnh nhân và phương pháp: Tất cả các trường hợp được chẩn đoán là limphom không Hodgkin từ tháng 10/1998 đến tháng 7/2000 tại Bộ môn Giải phẫu bệnh - Trường Ðai học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Các trường hợp đều được 3 BS Giải phẫu bệnh đọc trên tiêu bản HE, sau đó xác định lại bằng nhuộm hoá-mô-miễn dịch với kháng thể chống kháng nguyên LCA, CD20, CD45RO. Có 85/96 trường hợp được chọn lựa.

Kết Quả: Limphom B chiếm 67%, limphom T chiếm 23,5%, 9,5% không xếp loại vì không biểu hiện kháng nguyên B và T. Loại thường gặp nhất là limphom B lan tỏa tế bào to, chiếm 25,8%. Limphom nang, limphom tế bào rìa, limphom vùng rìa (bao gồm cả các limphom kết hợp niêm mạc chiếm 10,5%, 7%, và 11,7%. Trong số các limphom T, loại thường gặp nhất là limphom T ngoại biên, không đặc biệt, chiếm 15,3%, limphom T loại tăng sản mạch máu và các loại khác chiếm 3,5% và 4,7%.

KẾT LUẬN: Phenotyp miễn nhiễm và phân bố các loại limphom trong nghiên cứu này không có khác biệt lớn so với các nước khác ở Châu Á. Tuy nhiên so với châu Âu và Hoa kỳ thì loại limphom nang ít gặp hơn.

SUMMARY

NON HODGKIN’S LYMPHOMAS: Immunophenotypic ANALYSIS

Phan Chien Thang, Hua Thi Ngoc Ha, Nguyen Thi Hong Nguyet, Nguyen Sao Trung
* Y hoc TP. Ho Chi Minh 2000 * Vol. 4 * No. 4: 203 -
210

INTRODUCTION: The distribution of the major subtypes of non-Hodgkin's lymphoma (NHL) differs across geographic regions. This is the first study from Hochiminh City (Vietnam) that has incorporated immunophenotypic findings while investigating the distribution of NHL subtypes.

PATIENTS AND METHODS: All cases diagnosed as NHL between Octorber 1998 and July 2000 in the Department of Pathology, University of Medecine and Pharmacy in Hochiminh city, were selected for the study. The cases were reviewed by three pathologists on HE slides, then identified on immunohistochemical slides staining with antibodies anti LCA, CD20, CD45RO. Of a total of 96 cases, the diagnosis of NHL was accepted in 85 cases.

RESULTS: B-cell lymphomas formed 67% of the NHLs, whereas T-cell lymphomas formed 23.5% of the total. Diffuse large B-cell lymphoma was the most common subtype (25.8% of all NHLs). Follicular centre-cell lymphomas, mantle-cell lymphoma, and marginal zone B-cell lymphomas (including MALT lymphomas) amounted to 10.5%, 7%, and 11.7%, respectively. Among the T-cell lymphomas, peripheral T-cell lymphomas, non specific was the most common (15.3% of all NHLs), angioimmublastic T-cell lymphoma, and others accounted for 3.5% and 4.7% of all cases, respectively.

CONCLUSIONS: The distribution of NHL immunophenotyps and subtypes in this study shows nonsignificant differences with those from the other countries of the Asia. Follicular lymphoma is less common in Hochiminh city compared to Europe and the USA..

ÐẶT VẤN ÐỀ

Limphom không Hodgkin (NHL) là loại u ác tính khá thường gặp ở nước ta, hiện đang có chiều hướng gia tăng trên thế giới(3,13,15). Sự phân bố các loại limphom không Hodgkin khác nhau giữa các vùng trên thế giới(1). Bệnh có khả năng điều trị được bằng hóa trị, xạ trị hoặc hóa trị kết hợp xạ trị(9), nhất là các u có độ ác cao(5). Bệnh nhân có thời gian sống thêm khá dài, tiên lượng tốt hơn các ung thư khác như: carcinom và sarcom, melanom... Tiên lượng của bệnh nhân phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng loại mô học góp vai trò không nhỏ. Do đó việc chẩn đoán và xếp loại các limphom đòi hỏi độ chính xác cao, từ đó mới có thể lựa chọn phác đồ điều trị đúng đắn. Tuy nhiên, nếu chỉ xếp loại các loại các NHL đơn thuần dựa trên hình thái học của tiêu bản nhuộm HE như trước đây thì không chính xác, bởi nhiều loại tế bào u nói chung, và các tế bào limphô có hình thái giống nhau nhưng lại có nguồn gốc khác nhau. Muốn xác định được nguồn gốc tế bào phải dùng các phương pháp hóa mô miễn dịch. Việc phân loại các NHL trong 2 thập kỷ gần đây cũng dựa vào các đặc điểm phenotyp miễn nhiễm của tế bào limphô như bảng phân loại Lukes-Collins(10), bảng phân loại Kiel(14), và gần nhất là bảng phân loại NHL của nhóm nghiên cứu limphom quốc tế (Revived Eropean-American Classification of Lymphoid Neoplasm (REAL), 1994)(5). Chẩn đoán và phân loại theo bảng này thích hợp hơn các bảng trước đây(2) Từ năm 1997, bộ môn giải phẫu bệnh - Trường Ðại học Y dược TP. Hồ Chí Minh thành lập phòng xét nghiệm Hóa - Mô - Miễn dịch, nên chúng tôi bắt đầu nghiên cứu phenotyp miễn dịch của các NHL được chẩn đoán tại bộ môn và các bệnh viện khác đưa đến hội chẩn. Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định dòng tế bào của các NHL, xếp loại theo REAL, đối chiếu với tuổi, giới, và vị trí u, không đề cập đến tiên lượng và điều trị.

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Vật liệu

Mẫu bệnh phẩm được chẩn đoán là limphom không Hodgkin tại bộ môn Giải phẫu bệnh - Ðại học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh và các bệnh viện khác được đưa đến hội chẩn như BV Chợ rẫy, BV Từ Dũ... trong 3 năm, từ tháng 10/1998 đến tháng 8/2000.

Tiêu chuẩn chọn lựa: tất cả các trường hợp được chẩn đoán trên tiêu bản HE là limphom không Hodgkin hoặc khác nhưng có phản ứng dương tính với kháng thể chống LCA (leucocyte common antigen).

Tiêu chuẩn loại trừ: Các trường hợp âm tính với kháng thể chống LCA.

Có tất cả 85/96 trường hợp được chọn lựa.

Phương pháp nghiên cứu

Loại nghiên cứu: mô tả cắt ngang.

Bệnh phẩm được cố định bằng formol 10%. Ðo kích thước hạch, mô tả đại thể, cắt lọc và xử lý qua máy xử lý mô tự động, trước khi vùi nến và cắt lát mỏng 3-5m.

Tất cả các tiêu bản được nhuộm H&E.

Khảo sát vi thể dưới kính hiển vi quang học.

Nhuộm hóa mô miễn dịch (phương pháp Streptavidine-biotin) với kháng thể chống LCA, nếu âm tính, loại khỏi lô nghiên cứu, nếu dương tính nhuộm tiếp với kháng thể chống tế bào B (CD45RA, CD20), chống tế bào T (CD45RO, CD3).

Các kháng thể và hóa chất đi kèm được cung cấp bởi hãng Shandon (Immunon).

Ðọc kết quả dưới kính hiển vi thường:

- các trường hợp B (+), T(-) xếp loại limphom B.

- các trường hợp B (+), T(+) nhưng số lượng tế bào ít hơn xếp loại limphom B, giàu T.

-  các trường hợp B (-), T(+) xếp loại limphom T.

- các trường hợp B(-), T(-) xếp vào nhóm limphom không xếp loại.

Ðối chiếu kết quả với các dữ liệu của bệnh nhân (tuổi, giới, vị trí sinh thiết hạch) từ phiếu xét nghiệm giải phẫu bệnh.

Xếp loại mô học các limphom theo bảng phân loại REAL (1994)(5,17)

Dùng phần mềm Excel tổng kết tuổi, giới, vị trí và khảo sát mối liên quan với loại mô học.


** Bộ môn Mô phôi và Di truyền Trường Ðại học Y dược TP. Hồ Chí Minh

* Bộ môn Giải Phẫu Bệnh Trường Ðại học Y dược TP. Hồ Chí Minh