Tỷ lệ BVMÐTÐ trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2 là 25,2%, phù hoàng điểm kèm theo là 13,2%, tương đương một số nghiên cứu trước đây(3,4,5,11). Tỷ lệ BVMÐTÐkts là17,6%, tỷ lệ BVMÐTÐts là 5,1%.
Nhóm nghiên cứu được thu thập ngẫu nhiên với tuổi đời phân bố theo phân phối chuẩn nhưng chỉ giới hạn ở những bệnh nhân còn soi được đáy mắt và chỉ có ¼ bệnh nhân có BVMÐTÐ được chụp MKHQ nên trên thực tế tỷ lệ BVMÐTÐ có thể cao hơn kết quả đã nêu.
Không có sự khác biệt giữa hai giới. Kết luận này phù hợp với nhiều nghiên cứu trước đây(1,4).
Tuổi trung bình m = 58,9 ± 0,7. Nhóm tuổi đời có liên quan nhiều nhất đến BVMÐTÐ là 50-69 tuổi với tỷ lệ BVMÐTÐ là 34,2% cao hơn nghiên cứu của tác giả Rasmidatta-S tại bệnh viện Chonburi, Thái lan năm 1998 là 51-60 tuổi(7).
Tuổi trung bình m = 3,9 ± 0,3. Tuổi bệnh liên quan với BVMÐTÐ theo khuynh hướng đồng biến. Tuổi bệnh càng cao, BVMÐTÐ càng nhiều.
Tuổi bệnh trung bình nhỏ có thể do bệnh được phát hiện muộn, chăm sóc sức khỏe ban đầu chưa tốt. So với các nghiên cứu trước đây, khuynh hướng tăng dần của BVMÐTÐ theo tuổi bệnh giống nhau, chỉ khác là trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ BVMÐTÐ đã khá cao ở nhóm tuổi bệnh thấp hơn. Tuổi bệnh cần chú ý là 3 năm thay vì 5 năm ở các nghiên cứu của phương Tây vì sau mốc tuổi bệnh này, tỷ lệ BVMÐTÐ tăng vọt từ 13,8% lên 41,3% - 56,8%.
Ðồ thị 1: Tỷ lệ BVMÐTÐ theo tuổi bệnh
![]() |
Ðường huyết
trung bình m = 194,5 ±
5,4 mg%
Không có liên quan với BVMÐTÐ. Theo Créteil, có sự liên quan chặt chẽ giữa tỷ lệ BVMÐTÐ cũng như các biến chứng vi mạch khác với sự kiểm soát đường huyết(2). Trong nhiều nghiên cứu cũng ghi nhận liên quan này. Kết quả khác biệt trên có thể do đường huyết lúc đói không phản ánh đúng sự kiểm soát đường huyết mặc dù bệnh nhân được điều trị liên tục. Muốn có kết luận chắc chắn về đường huyết, cần xét liên quan với HbA1c.
HA ³ 160/100 mmHg làm tăng tỷ lệ BVMÐTÐ (40,4%) và phù hoàng điểm. Kết quả này phù hợp với nhận xét của Lombrail và CS là HA ³ 160/90 mmHg(1,8). Làm hạ huyết áp là một trong các mục tiêu điều trị ở bệnh nhân bị bệnh đái tháo đường, nhưng huyết áp giảm xuống < 160 / 100 mmHg thì đã có thểû hạn chế sự xuất hiện của BVMÐTÐ.
Suy thận làm tăng số trường hợp BVMÐTÐ. Tỷ lệ BVMÐTÐ trên người suy thận là 66,7%, không khác nghiên cứu của West (85%)(2,6) và thấp hơn nghiên cứu của Trần Xuân Ðài(3).
Suy thận cũng làm tăng số trường hợp phù hoàng điểm, một tổn thương nguy hiểm trong BVMÐTÐ. Ðiều này phù hợp với bệnh cảnh suy thận: cùng với phù toàn thân là phù võng mạc và xuất tiết cứng trong võng mạc.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi không phân biệt suy thận trước hay sau khi phát hiện đái tháo đường nên không loại trừ được các nguyên nhân khác của suy thận. Tuy vậy, vẫn có sự liên quan giữa suy thận và tổn thương võng mạc chứng tỏ đây là yếu tố nguy cơ cao cần được lưu ý.
Có liên quan ở nhóm tuổi bệnh 0-3 năm với tỷ lệ phù hoàng điểm là 42,9% và tỷ lệ BVMÐTÐ là 57,1%. Ðiều này hợp lý vì nhóm nghiên cứu của chúng tôi gồm những bệnh nhân hoại tử chi do tắc mạch, không kể những bệnh nhân nhiễm trùng khó lành mà chưa có tắc mạch. Như vậy, có hoại tử chi tức là có tổn thương nặng của thành động mạch gây tắc và có nguy cơ cao bị tắc mạch nhưng tuổi bệnh ngắn có thể do bệnh nhân được phát hiện đái tháo đường muộn hoặc bị các bệnh khác kèm theo làm tăng nguy cơ tắc lòng mạch.
Tai biến mạch máu não không phải chỉ do đái tháo đường, có lẽ đó là lý do không thấy có liên quan với BVMÐTÐ. Chúng tôi không tìm được tài liệu nào để so sánh về vấn đề này.
BVMÐTÐkts chỉ làm giảm thị lực ở mức độ nhẹ hoặc không làm giảm thị lực nhưng nếu có thêm phù hoàng điểm hoặc đục thủy tinh thể thì thị lực sẽ giảm xuống dưới 3/10 trong khi BVMÐTÐts, bản thân nó đã làm giảm thị lực xuống dưới 3/10 dù có hay không có kèm đục thủy tinh thể và nếu có thêm phù hoàng điểm thì thị lực sẽ giảm xuống dưới 1/10. Như vậy, phù hoàng điểm, đục thủy tinh thể và BVMÐTÐts là những tổn thương chủ yếu gây giảm thị lực xuống dưới 3/10 ở bệnh nhân đái tháo đường dù còn soi được đáy mắt.
Thị lực £ 3/10 ở nhóm BVMÐTÐts có đục thủy tinh thể không khác nhóm không đục thủy tinh thể chứng tỏ ở những mắt có BVMÐTÐts còn soi được đáy mắt, thị lực giảm xuống £ 3/10 chủ yếu do tổn thương võng mạc chứ không còn chịu ảnh hưởng của đục thủy tinh thể nữa. Vì thế, chỉ định mổ vì lý do giảm thị lực ở những bệnh nhân này phải hết sức thận trọng, mức độ đục thủy tinh thể phải được xem xét kỹ lưỡng, bệnh nhân phải được giải thích rõ ràng về khả năng phục hồi thị lực sau mổ vì cuộc mổ có thể làm nặng thêm bệnh lý võng mạc, nhất là phù hoàng điểm. Tuy nhiên, với kỹ thuật mổ đục thủy tinh thể tiến bộ như ngày nay, chúng ta nên đặt vấn đề mổ sớm cho bệnh nhân đái tháo đường khi đáy mắt còn bình thường hoặc có BVMÐTÐkts, phẫu thuật vừa giúp tăng thị lực vừa tạo điều kiện theo dõi và điều trị đáy mắt dễ dàng hơn.
© 17,1% bệnh nhân có thị lực <1/10, tỷ lệ này cao hơn tỷ lệ đã nêu là 2,3% (20,5) do không thể tách rời vai trò gây giảm thị lực của đục thủy tinh thể, đục pha lê thể ra khỏi BVMÐTÐ.
© Trong nhóm đái tháo đường bị mù, đục thủy tinh thể chiếm 78,3% mắt, BVMÐTÐ là 41,2%. Tỷ lệ mù do đục thủy tinh thể trong nhóm đái tháo đường không khác trong dân số (70,7%)(8) nhưng tỷ lệ mù do BVMÐTÐ cao hơn vì BVMÐTÐ là biến chứng vi mạch đặc trưng của bệnh đái tháo đường.
79,4% bệnh nhân (50/ 63) có BVMÐTÐ ở cả hai mắt và có cùng giai đoạn tổn thương trên hai mắt. Ðiều này cho phép chúng ta đặt vấn đề: cơ địa, thói quen sinh hoạt, ăn uống có phải là những yếu tố nguy cơ của BVMÐTÐ không? vì với cùng thời gian mắc bệnh, một số bệnh nhân bị BVMÐTÐ ở cả hai mắt, trong khi số khác lại không có tổn thương cũng ở cả hai mắt.
Nếu bệnh nhân có đục thủy tinh thể mà một mắt có BVMÐTÐ thì mắt còn lại dù không soi được đáy mắt cũng có thể dự đoán có BVMÐTÐ đến 85% đối với BVMÐTÐkts và 100% đối với BVMÐTÐts. Nhờ đó, chúng ta có thể tiên lượng về sự cải thiện thị lực sau mổ đục thủy tinh thể.