Võ
Thị Mỹ Dung*
Việc phát hiện H. pylori làm thay đổi cách thức suy nghĩ của các thầy thuốc lâm sàng về cơ chế bệnh sinh cũng như chiến lược điều trị các bệnh lý dạ dày tá tràng. Nhiễm H. pylori có thể lây truyền qua nhiều đường, quan trọng nhất là đường miệng-miệng. Tỉ suất hiện nhiễm và tỉ suất mới nhiễm có khuynh hướng giảm ở các nước phát triển. Trong khi đó, ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, tỉ suất hiện nhiễm và tỉ suất mới nhiễm vẫn còn cao. Nhiều yếu tố được xem là có nguy cơ lây nhiễm H. pylori; tuy nhiên, vẫn còn chưa được thống nhất.
EPIDEMIOLOGY OF HELICOBACTER PYLORI INFECTION
Vo
Thi My Dung* Y hoc TP. Ho Chi Minh 2000 * Vol. 4 * No. 4: 195 - 202
Discovering H. pylori makes clinical physician changing thinking of pathogenic mechanism and the strategy of therapy of peptic diseases. H. pylori infection can be transmitted via different route and oral-oral is the most important one. The prevalence and incidence are decreasing in developed countries while the prevalence and incidence in developing countries, including Vietnam, are still high. Many factors have been proposed as risk factors, however, with not consensus.
MỞ ÐẦU
Dịch tễ học về nhiễm trùng thường sử dụng các khái niệm:
tỉ suất hiện nhiễm, tỉ suất mới nhiễm. Tỉ suất hiện nhiễm
liên quan đến những trường hợp nhiễm trùng đang lưu hành
trong dân số tại một thời điểm. Tỉ suất mới nhiễm là những
trường hợp mới nhiễm trùng, mới
xảy ra trong một thời gian qui định và trong một dân số định
rõ. Ðối với H. pylori do không thể xác định thời gian nhiễm trùng
về phương diện lâm sàng, nên cần có những nghiên cứu dựa
trên việc theo dõi những người chưa bị nhiễm trùng để xác
định chính xác xuất độ mới nhiễm. Nhiễm trùng H.
pylori có thể được chứng minh bằng cách sử dụng một
trong các thử nghiệm chẩn đoán phổ biến áp dụng cho dân số.
Ðể nghiên cứu về dịch tễ học, việc phát hiện H.
pylori nên được thực hiện bằng những phương pháp không
xâm lấn, vì không có hại và không có các khó khăn trong
chọn mẫu thử nghiệm. Phương pháp tốt nhất có lẽ là nghiệm
pháp thở urea, phương pháp này có ưu điểm là có thể sử
dụng cùng với thức ăn do đó có thể thực hiện dễ dàng
ngay cả với những trẻ em còn nhỏ. Bất lợi của thử nghiệm
này là bệnh nhân phải mất khoảng 60 phút. Thử nghiệm huyết
thanh học có thể được thực hiện cho nhiều người, tốn rất
ít công sức. Hạn chế của huyết thanh học là không thể phân
biệt nhiễm trùng hiện có và nhiễm trùng đã có trong quá
khứ.
Sự phân bố
về tỉ lệ nhiễm trùng H. pylori
ở các nước và các vùng rất khác nhau do tác động của
nhiều yếu tố khác nhau. Mối liên quan giữa nhiễm trùng
H. pylori với các bệnh tiêu hóa cũng rất đa dạng. Ðể
hiểu tầm quan trọng của nhiễm trùng H.
pylori, tác động của các yếu tố kinh tế xã hội, mô hình
phân bố nhiễm trùng, cũng như xuất độ nhiễm trùng trong các
bệnh lý về tiêu hóa chúng ta cần có những hiểu biết cơ
bản về dịch tễ học nhiễm trùng H.
pylori.
Nhiều nghiên cứu
cho thấy tỉ suất hiện nhiễm H.
pylori cao(24) và tỉ lệ huyết thanh H.
pylori dương tính tăng theo tuổi(4,7). Ở St Petersburg,
88% dân số có huyết thanh dương tính ở trước tuổi 20 so với
thanh thiếu niên ở Bắc Ái Nhĩ Lan huyết thanh dương tính chỉ
30%(25,30).
Các công trình
nghiên cứu về dịch tễ-huyết thanh ở trẻ em bị hạn chế do
thiếu các ngân hàng huyết thanh trẻ em kèm với nhiều khó
khăn trong việc thu thập huyết thanh và giải thích chuẩn độ
kháng thể. Ngoài ra, mặc dù chuẩn độ kháng thể H. pylori từ mẹ giảm vào tháng thứ tư, nhưng nhiễm
trùng nguyên phát ở lứa tuổi này cũng được ghi nhận.
Ở Phi châu và Ấn Ðộ, hơn 80% trẻ em bị nhiễm trùng trước
tuổi 20, ngược lại ở Ý chỉ có 29% và ở Bỉ chỉ có 4%(31).
Nhiễm trùng H.
pylori có khuynh hướng giảm ở các nước phát triển. Ngược
lại ở các nước đang phát triển tỉ suất hiện nhiễm vẫn
còn rất cao ở mọi lứa tuổi. Ở các nước công nghiệp hóa
tỉ suất hiện nhiễm H. pylori mỗi
năm tăng khoảng 1% so với tình trạng tăng tuổi ở trẻ em, tỉ
lệ này thấp hơn ở các nước chưa công nghiệp hóa, tỉ suất
hiện nhiễm ở trẻ dưới 10 tuổi đến 50%. Ở các nước công
nghiệp hóa, những người thuộc tầng lớp nghèo nhất có tỉ
suất hiện nhiễm cao nhất.
Ở người lớn
tỉ suất mới nhiễm thấp. Tỉ suất mới nhiễm nhỏ hơn 1% mỗi
năm(10). Một bài báo về tỉ suất mới nhiễm trong quân
đội Hoa kỳ báo cáo tỉ lệ chuyển huyết thanh là 5 trong số
601 người, tương đương với tỉ suất mới nhiễm hàng năm
1,9%(18). Tỉ suất này cao hơn các báo cáo khác, điều
này gợi ý tình trạng mắc phải nhiễm trùng có thể xảy ra
rộng rãi và những điều kiện sống trong quân đội là các
yếu tố thúc đẩy việc lây truyền.
Ở trẻ em các
tỉ lệ mới nhiễm cao hơn người lớn. Tỉ suất mới nhiễm cao
hơn trong trẻ em dưới năm tuổi so với những trẻ lớn hoặc
người trưởng thành, do trẻ em tiếp xúc với nguồn lây nhiều
hơn hoặc trẻ em tăng cảm nhiễm với nhiễm trùng sớm trong thời
thơ ấu(31). Tỉ suất mới nhiễm H.
pylori đang giảm ở những nước phát triển và tỉ lệ nhiễm
trùng tái phát cao ở người lớn có thể do mắc phải H.
pylori lúc 15 tuổi hoặc nhỏ hơn(4). Tỉ lệ nhiễm trùng
cao ở người lớn ở các nước đang phát triển có thể
được giải thích là mắc phải nhiễm trùng trong thời thơ ấu.
Như vậy tỉ suất mới nhiễm H.
pylori giảm và tỉ suất huyết thanh toàn bộ tăng theo tuổi
ở người lớn trong dân số các nước đang phát triển là
kết quả của tác động đoàn hệ.
Ở những người
cần chăm sóc lâu dài do bị rối loạn tâm thần kinh trầm trọng
hầu hết bị nhiễm trùng. Một nghiên cứu tiền cứu theo dõi
những người lớn tuổi cần chăm sóc lâu dài cho thấy chuyển
đổi huyết thanh xảy ra với tỉ lệ 51 trong số 80 người huyết
thanh âm tính 12 năm, tương đương với tỉ suất mới nhiễm hằng
năm 7,4%(22). Tình trạng tái nhiễm H. pylori thực sự ở người lớn sau khi điều trị
tiệt trừ thành công hiếm khi xảy ra. Một nghiên cứu sử dụng
phương pháp chẩn đoán nhiễm H.
pylori dựa vào sinh thiết qua nội soi để đánh giá kết quả
tiệt trừ vi khuẩn và tình trạng phát hiện lại vi khuẩn một
năm sau khi chấm dứt điều trị cho thấy tỉ lệ tái nhiễm cao
(9,1%)(37), và trong hầu hết các trường hợp là do tái
phát chậm. Ngược lại một nghiên cứu khác sử dụng thử
nghiệm thở urea để đánh giá tiệt trừ và theo dõi tình trạng
H. pylori đã chứng minh tái
nhiễm H. pylori chỉ xảy ra 4
trong số 242 bệnh nhân (tỉ lệ tái phát H.
pylori 1,7%; độ tin cậy 95%). Do không định được kiểu gien
của các chủng phân lập, nên không thể phân biệt tái nhiễm
và tái phát chậm. Tuy nhiên trong các nghiên cứu định kiểu
gien được thực hiện trước và sau khi điều trị và từ vợ
hoặc chồng của bệnh nhân bị nhiễm, các kết quả chỉ ra rằng
tái phát trong vòng một năm tiệt trừ sạch là do tái phát
chậm, và điều quan trọng hơn là cho biết tình trạng tái phát
chậm sau khi chấm dứt điều trị một năm là do tái nhiễm từ
vợ hoặc chồng bị nhiễm.