Nhiễm trùng bệnh viện:

Chúng ta có tất cả 25 trường hợp nhập viện sau khi đã điều trị tại bệnh viện tuyến trước ít nhất 2 ngày.

Vi khuẩn

Số ca

%

Pseudo. aeruginosa

14

56

Staph. coagulase negative

4

16

S. aureus

2

8

Bacille G(-) Oxidase (+)

2

8

E. coli

1

4

Klebsiella spp

1

4

Streptococcus spp

1

4

Tổng cộng

25

100

Ða số các bệnh nhân nhiễm trùng huyết đã được điều trị tại bệnh viện tuyến trước nhập khoa cấp cứu bệnh viện Nhi đồng 1 có tỉ lệ nhiễm Pseudomonas rất cao (56%), kế đó là Staphylococcus coagulase negative (16 %).

Sự kháng thuốc của Pseudomonas aeruginosa

Kháng sinh

Nhạy

Kháng

Giới hạn

Số ca

%

Số ca

%

Số ca

%

Cefotaxim

4

16,66

6

25

14

58,33

Ceftazidim

18

75

2

8,33

4

16,66

Ciprofloxacin

23

95,83

1

4,16

0

0

Gentamycine

19

79,16

3

12,50

1

4,16

Neltimycine

23

95,83

0

0

1

4,16

Polymycine B

24

100

0

0

0

0

Ceftriaxone

1

4,16

21

87,50

2

83,33

Các kháng sinh còn nhạy với Pseudomonas aeruginosa là Polymycine B, Neltimycine, Ciprofloxacine. Ceftazidim chỉ còn nhạy 75% các trường hợp.

Sự kháng thuốc của Staphylococcus coagulase negative:

Kháng sinh

Nhạy

Kháng

Số ca

%

Số ca

%

Rifampycine

8

100

0

0

Vancomycine

8

100

0

0

Bactrim

1

12,5

7

87,5

Ery

1

12,5

7

87,5

Gentamycine

3

37,5

5

62,5

Oxacilline

1

12,5

7

87,5

Penicilline

0

0

8

100

Kháng sinh rất hiệu quả đối với Staphylococcus coagulase negative là Rifampycine và Vancomycine (100%).

BÀN LUẬN

Tỉ lệ nhiễm trùng huyết

Ta thấy tỉ lệ nhiễm trùng huyết rất cao ở trẻ dưới 5 tuổi (80,8%) vì đây là lứa tuổi mắc bệnh nhiều nhất và chiếm tỷ lệ tử vong cao nhất, đặc biệt là ở các nước đang phát triển như nước ta. Cũng vì lý do này mà hiện nay Tổ chức Y tế thế giới đang đẩy mạnh chương trình " Xử trí lồng ghép các bệnh ở trẻ em" tại các nước nghèo, nơi mà các bệnh gây tử vong nhiều nhất là: bệnh về đường hô hấp, bệnh về đường tiêu hóa, sốt rét, sởi, suy dinh dưỡng...(2).

Ta cũng cần lưu ý thêm, tỷ lệ nhiễm trùng huyết ở lứa tuổi càng nhỏ thì càng cao. Ðiều này cũng phù hợp vì trẻ càng nhỏ thì hệ thống miễn dịch càng chưa hoàn chỉnh, sức đề kháng của cơ thể càng yếu và trẻ càng dễ bị nhiễm trùng. Khi đã nhiễm trùng thì dễ bị nhiễm trùng nặng hơn các trẻ lớn và nhanh chóng đưa đến nhiễm trùng huyết.

Ðịa chỉ

Ða số trẻ nhiễm trùng huyết nhập khoa cấp cứu năm 1999 đến từ bệnh viện của các Tỉnh, chiếm 76,6%. Ðiều này có thể do sự tín nhiệm rất cao của các bệnh viện Tỉnh đối với bệnh viện Nhi đồng 1, bệnh viện đầu ngành Nhi của các tỉnh phía nam nhưng cũng có thể do khả năng hạn chế của các tỉnh về chuyên môn, trang thiết bị cũng như các xét nghiệm cần thiết cho chẩn đoán... Tuy nhiên, cũng nên lưu ý rằng vấn đề này có thể do tâm lý của các bậc cha mẹ muốn con mình được điều trị ngay từ đầu tại những bệnh viện có trình độ chuyên môn cao và đầy đủ phương tiện.

Tháng nhập viện

Số bệnh nhân nhiễm trùng huyết nhập khoa cấp cứu chiếm tỷ lệ khá cao trong 6 tháng đầu năm 1999 (72,4 %).

Hội chứng đáp ứng viêm toàn thân

Hiện nay người ta có một khái niệm mới là "hội chứng đáp ứng viêm toàn thân" (Systemic Inflammatory Response Syndrome: SIRS) và được định nghĩa bởi 4 tiêu chuẩn lâm sàng lớn(3,4,5,9):

- nhiệt độ không ổn định

- nhịp tim nhanh

- thở nhanh

- sự đáp ứng bệnh lý của bạch cầu

Nếu hội chứng đáp ứng viêm toàn thân được gây nên do nguyên nhân nhiễm trùng thì được gọi là nhiễm trùng huyết.

Trong 47 bệnh nhân nhiễm trùng huyết nhập khoa cấp cứu bệnh viện Nhi đồng 1 có 37 bệnh nhân (78,7%) có hội chứng đáp ứng viêm toàn thân rõ. Ðây cũng là một chỉ điểm lâm sàng cần lưu ý. Tuy nhiên, đã có đến 63,8% các trường hợp bác sĩ nhận bệnh từ đầu tại khoa cấp cứu đã không nghĩ đến "Nhiễm trùng huyết" trong chẩn đoán của mình. Do đo,ù trước những bệnh nhân đã từng được điều trị tại bệnh viện tuyến trước với những chẩn đoán khác nhau nhất là những bệnh lý có liên quan đến nhiễm trùng thì khi tiếp nhận ta cần lưu ý ngay đến tình trạng nhiễm trùng của bệnh nhân, các triệu chứng lâm sàng, nhất là thời gian nằm điều trị tại tuyến trước để nhanh chóng phát hiện nhiễm trùng huyết và điều trị kịp thời. Những trường hợp nghi ngờ, ta có thể làm thêm một số xét nghiệm cận lâm sàng như CRP, Công thức máu vì sự gia tăng CRP hay sự thay đổi tỉ lệ Band neutrophil / Neutrophil cũng giúp ích cho chẩn đoán trong khoảng 50% các trường hợp.

Tác nhân gây nhiễm trùng huyết

Cũng cần lưu ý thêm, tác nhân gây nhiễm trùng huyết trên những bệnh nhân đã được điều trị tại bệnh viện tuyến trước nhập bệnh viện Nhi đồng 1 là Pseudomonas aeruginosa (56%) và Staphylococcus coagulase negative (16%). Chúng ta cần quan tâm đến dữ kiện này để có những quyết định đúng đắn trong điều trị nhất là vấn đề lựa chọn kháng sinh từ đầu vì hiện nay Pseudomonas aeruginosa đã kháng với rất nhiều kháng sinh thông thường như Cefotaxime, Ceftriaxone dù các kháng sinh này đã được một số tác giả nước ngoài đề nghị sử dụng ngay từ đầu(6), ngay cả Ceftazidim cũng chỉ còn nhạy 75% và Staphylococcus coagulase negative chỉ nhạy với Rifampycine và Vancomycine. Do đó, vấn đề đặt ra là nên chăng sử dụng Neltimycine hoặc Polymycine B ngay từ đầu đối với những trường hợp nghi ngờ nhiễm trùng huyết do Pseudomonas aeruginosa, nghĩa là những bệnh nhân đã từng được điều trị tại bệnh viện tuyến trước ít nhất hai ngày.

KẾT LUẬN

Nhiễm trùng huyết trẻ em là một trong những vấn đề đáng quan tâm hiện nay vì ở trẻ em nhiễm trùng huyết trong giai đoạn sớm triệu chứng không rõ ràng nhưng diễn tiến rất nhanh chóng, do đó nếu không chẩn đoán và điều trị đúng đắn, kịp thời thì tỷ lệ tử vong sẽ rất cao.

Ðêû chẩn đoán xác định nhiễm trùng huyết đòi hỏi phải có kết quả cấy máu dương tính, nhưng kết quả này thường có rất trễ trung bình là 5-7 ngày sau, do đó chúng ta cần phải dựa trên những triệu chứng lâm sàng và một số xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết để nhận diện và chẩn đoán sớm nhiễm trùng huyết ngay từ khi tiếp nhận bệnh nhân để có thể xử trí nhanh và đúng hầu ngăn chặn bệnh diễn tiến nặng thêm. Ngoài ra, ta cần lưu ý đến những bệnh nhân đã được điều trị tại tuyến trước vì tác nhân gây nhiễm trùng huyết thường gặp là Pseudomonas aeruginosa có khả năng kháng thuốc cao.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.        BONE RC and al: Sepsis syndrome: A valid clinical entity, Critical Care Medicine, 1989, Vol 17 No 5: 389-393

2.        PHẠM BÍCH CHI: Quá trình xử trí lồng ghép bệnh, Sổ tay xử trí lồng ghép bệnh trẻ em, 2000:5.

3.        TẠ THỊ ÁNH HOA: Phản ứng viêm trong nhiễm trùng huyết, Miễn dịch lâm sàng trẻ em, 1998: 300-306.

4.        KEITH R. POWELL: Sepsis and shock, Nelson Textbook of Pediatrics 1996: 704-706

5.        MICHAEL R. ANDERSON, JEFFREY L. BLUMER: Advances in the therapy for sepsis in chidren, Pediatric clinics of North America, Vol 44, No 1, February 1997: 179-203

6.        RUSSELL W. STEELE: Septic shock, The clinical handbook of Pediatric Infectious disease 1994: 38-39

7.        HÀ MẠNH TUẤN: Góp phần nghiên cứu nhiễm trùng huyết, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú 1990-1992.

8.        WEBSTER N: Sepsis scoring in the ICU: The value of scoring systems in common ICU use, International journal of Intensive care, Supplement Autumn 1994: 20-21

9.        XAVIER SAEZ-LLORENS, GEORGE H., MCCRACKEN J: Sepsis syndrome and septic shock in peadiatrics: Current concepts of terminology, pathophysiology, and management, The journal of Pediatrics, October 1993, Vol 123 No 4: 497-506.