ÐẶC ÐIỂM NHIỄM TRÙNG HUYẾT
NHẬP KHOA CẤP CỨU BỆNH VIỆN NHI ÐỒNG 1 NĂM 1999

Bùi Quốc Thắng*

TÓM TẮT

Có tất cả 47 ca nhiễm trùng huyết được xác định bằng cấy máu nhập khoa cấp cứu bệnh viện Nhi đồng 1 năm 1999. Trong số này trẻ dưới 5 tuổi chiếm 76,6 % và có 80,8 % trẻ được chuyển đến từ các bệnh viện tuyến trước. Tuy nhiên, khi tiếp nhận bệnh nhân, chỉ có 36,2 % trường hợp được nghĩ đến nhiễm trùng huyết mặc dù có tới 78,7% trường hợp có biểu hiện hội chứng đáp ứng viêm toàn thân. Ngoài ra, các kết quả cấy máu đã xác định được tác nhân gây bệnh thường gặp nhất là Pseudomonas aeruginosa, chiếm 51,06% các trường hợp. Vi khuẩn này đã đề kháng với các kháng sinh thường dùng như Cefotaxim, Ceftriaxone... kể cả Ceftazidim cũng đã kháng 25%. Kháng sinh nhạy cảm tốt với chúng trên kháng sinh đồ là Polymycine B và Neltimycine.

SUMMARY

CHARACTERISTICS OF SEPSIS AT EMERGENCY WARD,
CHILDREN HOSPITAL N01 IN 1999

Bui Quoc Thang * Y hoc TP. Ho Chi Minh 2000 * Vol. 4 * No. 4: 211 - 215

In total, there were 47 cases of sepsis which were identified by blood culture hospitalized in Children Hospital N01 in 1999. Among those children, there were 76.6% children under 5 year of age and 80.8% children referred from the non-tiertary hospitals. However, at admission there only 36.2% cases suspected of sepsis although 78.7% cases had Systemic Inflammatory Response Syndrome. In addition, the result of blood culture show the most common agent such as Pseudomonas aeroginosa (51.6%). This agent was resistant to the common antibiotics: Cefotaxim, Ceftriaxone... including Ceftazidim. The best antibiotics for them are Polymycine B, Neltimycine

ÐẶT VẤN ÐỀ

Nhiễm trùng huyết (NTH) hiện nay là một vấn đề rất đáng quan tâm vì nó gây ra một bệnh cảnh lâm sàng nặng nề và tử vong khá cao, nhất là những nước đang phát triển như nước ta. Ở các nước khác trên thế giới nó đứng hàng thứ 13 trong các nguyên nhân gây tử vong ở trẻ trên 1 tuổi và hàng thứ 9 ở trẻ từ 1-4 tuổi, một con số đáng lưu ý.

Ở trẻ em nhiễm trùng huyết trong giai đoạn sớm triệu chứng không rõ ràng nhưng diễn tiến rất nhanh chóng và có nhiều biến chứng nguy hiểm nhất là sốc nhiễm trùng. Bên cạnh đó sức đề kháng của cơ thể trẻ em thường thấp hơn so với người trưởng thành, do đó bệnh nhiễm trùng huyết thường gây tỷ lệ tử vong cao nếu không phát hiện kịp thời và điều trị đúng.

Theo tác giả Roger C. Bone(1,4), hội chứng nhiễm trùng huyết là một thực thể lâm sàng có giá trị và đó là biểu hiện lâm sàng sớm của nhiễm trùng huyết trước khi có những biểu hiện nặng hơn (sốc nhiễm trùng, suy chức năng các cơ quan: tim, phổi, thận, não....) và tác giả hy vọng rằng những nhà lâm sàng phải hiểu rõ những định nghĩa liên quan đến nhiễm trùng huyết đặc biệt là hội chứng nhiễm trùng huyết bao gồm những triệu chứng sau đây:

- ổ nhiễm trùng trên lâm sàng

- phản ứng toàn thân với nhiễm trùng:

 + sốt > 380C hay hạ thân nhiệt <35,60C

 + tăng nhịp tim (so với lứa tuổi).

 + tăng nhịp thở (so với lứa tuổi)

- ít nhất một trong những biểu hiện sau đây của rối loạn chức năng các cơ quan:

 + giảm oxy máu

 + toan chuyển hóa

 + thiểu niệu

 + thay đổi tri giác: kích thích, li bì, lơ mơ, hôn mê....

Ðêû chẩn đoán xác định nhiễm trùng huyết ngoài biểu hiện lâm sàng đòi hỏi phải có kết quả cấy máu dương tính, nhưng kết quả thường có rất trễ trung bình là 5-7 ngày sau và không phải lúc nào cũng cho kết quả dương tính.

Do đó chúng ta cần phải dựa trên những triệu chứng lâm sàng để nhận diện và chẩn đoán sớm nhiễm trùng huyết và các giai đoạn diễn tiến của nó để có thể xử trí nhanh và đúng lúc hầu ngăn chặn bệnh diễn tiến nặng thêm đưa đến tình trạng sốc nhiễm trùng, sốc không hồi phục và rối loạn chức năng các cơ quan dẫn đến tử vong cho trẻ(8).

Qua nghiên cứu này, chúng tôi muốn tìm ra các đặc điểm của nhiễm trùng huyết ở trẻ em tại khoa cấp cứu bệnh viện Nhi đồng 1 năm 1999 về:

- Dịch tễ: lứa tuổi, giới tính, ngày tháng nhập viện...

- Lâm sàng: giá trị của hội chứng đáp ứng viêm toàn thân (ÐƯVTT).

- Các thay đổi của các các xét nghiệm thường làm trong nhiễm trùng huyết: CRP, Bandneutrophil...

- Vi sinh học: các vi khuẩn thường gặp trong nhiễm trùng huyết

ÐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Ðối tượng nghiên cứu

Tất cả các trẻ từ 2 tháng trở lên nhập khoa cấp cứu bệnh viện Nhi đồng 1 từ 01/01/1999 đến 31/12/1999 có kết quả cấy máu dương tính.

Phương pháp nghiên cứu

Ðây là nghiên cứu hồi cưùu: đến khoa Vi trùng học bệnh viện Nhi đồng 1 tìm các kết quả cấy máu dương tính của bệnh nhân nhập khoa Cấp cứu năm 1999.

Dựa vào tên bệnh nhân, ngày lấy mẫu máu để tìm ra họ tên, tuổi, ngày nhập viện, số nhập viện và số hồ sơ.

Ðến phòng hồ sơ để tìm các hồ sơ cần thiết

Nhập tất cả các dữ kiện cần thiết vào phiếu thu thập dữ kiện

Xử lý các số liệu bằng chương trình SPSS 9.01

Phân tích các số liệu và đưa ra nhận xét