Dùng đặt
được thông Foley, thông Malecot(24). Loại này cũng có
trô-ca chỉ dùng một lần và loại dùng nhiều lần.


Do các ưu điểm
trên mà loại trô-ca dùng thông có bong bóng được ưa chuộng
hơn, nhất là tại các xứ nghèo. Có lẽ Tinckler tại Anh là
người đầu tiên mô tả loại trô-ca cho phép sử dụng
được thông có bong bóng vào năm 1971(25). Trô-ca
Tinckler gồm có kim và nòng ngoài có khe, bằng nhựa, để dễ
tước ống thông ra khỏi nòng. Dựa trên ý tưởng nòng nhưạ
có khe, Lawrence và cs. tại Nottingham năm 1989 công bố loại trô-ca
(hình 2) mà cơ chế đâm vào bọng đái là vặn tới. Ðiểm
đặc biệt là nòng nhựa có tay nắm để dễ kéo ra ngoài thành
bụng và khi cầm tay nắm tước ra bên hông thì nòng nhựa trở
thành ống nhựa có khe hở bên hông như kiểu của Tinckler,
qua đó ống thông Foley được tước ra dễ dàng(16).
Năm 1990, Elem tại Lusaka, thủ đô Zambia, nhận thấy nòng nhựa
ở trên chỉ dùng một lần nên tốn kém, ông thay nòng nhựa
của Lawrence bằng nòng kim loại mỏng, có khe hở (hình 3); và
do đó trô-ca Lusaka có thể dùng được nhiều lần(9).
Nguyễn Thành Như ghi nhận trô-ca Lusaka đã đánh mất ưu điểm
vỏ ngoài dạng ống kín của trô-ca Nottingham (nhờ ống kín, khi
trô-ca đã lọt vào bọng đái, rút kim ra, có thể dùng đầu
ngón tay bịt ống lại, hạn chế bọng đái xẹp nhanh) và, hơn nữa,
do bỏ đi tay nắm nên sau khi đã luồn thông Foley vào bọng đái
sẽ rất khó kéo nòng của trô-ca Lusaka ra khỏi thành bụng.
Thêm vào đó, khi sử dụng hai loại trô-ca kể trên, người
đâm trô-ca chỉ nhận biết được trô-ca đã lọt vào bọng
đái nhờ cảm giác "hẫng", chứ không có một dấu hiệu
khách quan nào khác. Ðể khắc phục các nhược điểm trên,
Nguyễn Thành Như đã đưa ra một loại trô-ca mới: trô-ca
Saigon(17) (hình 4), được làm dựa trên nguyên tắc:
dễ làm trong điều kiện Việt Nam hiện tại, sử dụng dễ và
an toàn, dễ bảo quản và tiệt trùng, dùng đặt được thông
Foley (hình 5), (có 2 cỡ trô-ca dành cho thông 12 F và 18F), gồm
:
1.
Kim: dài 13cm, đầu vát nhọn, đuôi có nút chận, thân
xẻ rãnh nhỏ nên khi trô-ca lọt vào bọng đái thì nước tiểu
sẽ vọt thành tia ra ngoài.
2.
Ống: dài 12cm, là 2 nửa ống ghép lại bằng kẹp.
3.
Kẹp: là 2 mảnh ghép lại bằng 2 vis.
Ngoài ra, để tránh
tối đa tai biến thủng ruột do đâm trô-ca mù, Sinha, 1971, tại
Tây Phi dùng kim chọc tĩnh mạch (intracath) số 14G cũng đủ dẫn
lưu bọng đái tạm thời, nhất là đối với trẻ em(23),
Blandy bàn về trô-ca "Supracath" là kim chọc tĩnh mạch có
đuôi nối với một ống thông(3).
MBÐRD có chỉ định
khi bệnh nhân không thể đi tiểu qua niệu đạo (hẹp niệu đạo,
chấn thương niệu đạo, gãy xương chậu), khi niệu đạo cần
nghỉ ngơi (sau các phẫu thuật trên niệu đạo(6)). Khi
động tác đi tiểu không hiệu quả, không tống thoát hết nước
tiểu (hẹp cổ bọng đái, bướu tiền liệt tuyến, suy kiệt, bọng
đái thần kinh khi bệnh nhân không thực hiện được tự thông
tiểu sạch-cách quãng(2), bệnh nhân bị bí đái sau phẫu
thuật nhất là phẫu thuật trực tràng(21) và phụ
khoa) thì MBÐRD có hiệu quả hơn hẳn mang thông niệu đạo lưu
về mặt phòng chống nhiễm trùng niệu(22,26), bệnh nhân
thấy dễ chịu hơn là mang thông niệu đạo(7), tránh
được các biến chứng tại chỗ do thông gây ra như viêm niệu
đạo, áp-xe niệu đạo, hẹp niệu đạo(1,7) và bệnh
nhân có thể kẹp thông để tập tiểu dễ dàng(5).
Các trường hợp
trên đều có chỉ định MBÐRD bằng trô-ca; MBÐRD cổ điển hiện
chỉ còn chỉ định khi cần đặt những ống thông số lớn
(24-26F) để thoát lưu hữu hiệu máu cục và khi có chống chỉ
định MBÐRD bằng trô-ca(7) vì:
- Có nhiều nguy cơ
gây thủng ruột nếu dùng trô-ca do bọng đái không đủ căng
hay không thể bơm căng được (bọng đái co thắt do lao, sau xạ
trị, hay do viêm bọng đái mô kẽ), hay do có nhiều khả năng
ruột bị dính vào bụng dưới (sẹo mỗ cũ).
- Bướu tiền liệt
tuyến to nhô vào bọng đái vì trô-ca có thể làm tổn thương
tiền liệt tuyến, gây chảy máu.
- Bệnh nhân đang
dùng thuốc chống đông.