Một số nghiên
cứu cho thấy sau khi dùng metoprolol, mật độ thụ thể bêta gia
tăng kèm theo những cải thiện về huyết động
học. Tuy nhiên, người ta nhận thấy sự gia tăng mật độ xảy
ra sau khi dùng thuốc vài ngày trong khi các cải thiện lâm sàng
chỉ có sau nhiều tháng dùng thuốc. Như vậy những cải thiện
này không thể giải thích đơn thuần bằng hiện tượng "điều
chỉnh lên"(6). Mặc dù các thuốc ức chế bêta
được nghiên cứu đều cải thiện chức năng co bóp cơ tim nhưng
không phải thuốc nào cũng làm tăng mật độ thụ thể bêta.
Metoprolol làm tăng các thụ thể tại tim nhưng carvedilol lại không
làm tăng mật độ thụ thể.
Nguyên nhân của
suy tim cũng ảnh hưởng tới những thay đổi của thụ thể.
Bristow nhận thấy ở bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ, hiện tượng
down-regulation ít hơn so với bệnh cơ tim giãn nở
và thuốc ức chế bêta có hiệu quả đối với BCTGN tốt hơn
BCTTMCB(18).
Tóm lại mục
tiêu sinh lý bệnh học của việc điều trị suy tim bằng các
thuốc ức chế bêta là(7):
·
BẢO VỆ CƠ TIM: Giảm sự hoạt hóa quá mức hệ thần
kinh giao cảm.
·
ỔN ÐỊNH NHỊP TIM: Nâng ngưỡng rung thất.
·
TÁI LẬP CÁC PHẢN XẠ SINH LÝ: Bình thường hóa lại các
thụ thể bị điều chỉnh xuống.
·
GIẢM TẦN SỐ TIM: Cải thiện công năng co bóp

Trên
bệnh nhân suy tim, sử dụng lâu dài thuốc ức chế bêta cho
thấy có cải thiện về huyết động học: tăng chỉ số nhát bóp,
tăng EF, giảm áp lực mao mạch phổi bít. Tuy nhiên chỉ số tim
thường không thay đổi do nhịp tim giảm. Cơ chế làm tăng EF là
do cải thiện về sức co của cơ tim. Theo một thí nghiệm của
Eichorn, sự sinh công (tăng áp lực) của thất trái lớn hơn
với một áp lực đổ đầy thấp hơn khi dùng metoprolol so với
placebo (H.4)
Hiệu qua trên tỷ lệ bệnh tật
Sử dụng thuốc ức chế Bêta lâu dài làm giãm số lần cần nhập viện vì nguyên nhân tim mạch , vì suy Tim cũng như nhập viện do mọi nguyên nhân . Thuốc cũng làm giảm thời gian nằm viện . Ðặt biệt nghiên cứu CIBIS II tỷ lệ bệnh tật giảm vượt trội hẳn so với các thuốc khác ( Bảng 2 )
