Tác động của thuốc ức chế bêta trên mật độ thụ thể bêta

Một số nghiên cứu cho thấy sau khi dùng metoprolol, mật độ thụ thể bêta gia tăng kèm theo những cải thiện về huyết động học. Tuy nhiên, người ta nhận thấy sự gia tăng mật độ xảy ra sau khi dùng thuốc vài ngày trong khi các cải thiện lâm sàng chỉ có sau nhiều tháng dùng thuốc. Như vậy những cải thiện này không thể giải thích đơn thuần bằng hiện tượng "điều chỉnh lên"(6). Mặc dù các thuốc ức chế bêta được nghiên cứu đều cải thiện chức năng co bóp cơ tim nhưng không phải thuốc nào cũng làm tăng mật độ thụ thể bêta. Metoprolol làm tăng các thụ thể tại tim nhưng carvedilol lại không làm tăng mật độ thụ thể.

Nguyên nhân của suy tim cũng ảnh hưởng tới những thay đổi của thụ thể. Bristow nhận thấy ở bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ, hiện tượng down-regulation ít hơn so với bệnh cơ tim giãn nở và thuốc ức chế bêta có hiệu quả đối với BCTGN tốt hơn BCTTMCB(18).

Tóm lại mục tiêu sinh lý bệnh học của việc điều trị suy tim bằng các thuốc ức chế bêta là(7):

·         BẢO VỆ CƠ TIM: Giảm sự hoạt hóa quá mức hệ thần kinh giao cảm.

·         ỔN ÐỊNH NHỊP TIM: Nâng ngưỡng rung thất.

·         TÁI LẬP CÁC PHẢN XẠ SINH LÝ: Bình thường hóa lại các thụ thể bị điều chỉnh xuống.

·         GIẢM TẦN SỐ TIM: Cải thiện công năng co bóp

HIỆU QUẢ VÀ CÁC THỬ NGHIỆM LÂM SÀNG CỦA THUỐC ỨC CHẾ BÊTA TRONG SUY TIM

Có nhiều thử nghiệm lâm sàng được tiến hành từ năm 1975. Ban đầu chỉ là những công trình nhỏ và không ngẫu nhiên, tiếp theo sau là những công trình lớn, ngẫu nhiên, có so sánh với placebo đã được tiến hành. Sau đây là kết quả của các công trình đó (bảng 1). Ða số bệnh nhân bị BCTGN và BCTTMCB. Phần lớn, nhưng không phải tất cả, các nghiên cứu cho thấy có cải thiện về triệu chứng và giảm phân độ suy tim theo NYHA khi điều trị dài hạn với thuốc ức chế bêta. Những nghiên cứu không thấy có cải thiện tình trạng phần lớn là những nghiên cứu ngắn hạn và số lượng bệnh nhân ít.

                          

Hiệu quả về huyết động học

Trên bệnh nhân suy tim, sử dụng lâu dài thuốc ức chế bêta cho thấy có cải thiện về huyết động học: tăng chỉ số nhát bóp, tăng EF, giảm áp lực mao mạch phổi bít. Tuy nhiên chỉ số tim thường không thay đổi do nhịp tim giảm. Cơ chế làm tăng EF là do cải thiện về sức co của cơ tim. Theo một thí nghiệm của Eichorn, sự sinh công (tăng áp lực) của thất trái lớn hơn với một áp lực đổ đầy thấp hơn khi dùng metoprolol so với placebo (H.4)

Hiệu quả trên dung nạp với gắng sức

Kết quả thay đổi, nhiều công trình cho thấy có cải thiện về thời gian gắng sức nhưng nhiều công trình khác lại không thấy cải thiện. Các tác giả cho rằng, dùng các nghiệm pháp dưới mức tối đa hoặc nghiệm pháp đi bộ 6 phút cho thấy có cải thiện dung nạp với gắng sức tốt hơn so với các nghiệm pháp đòi hỏi bệnh nhân phải gắng sức tối đa. Ngoài ra, do tính chất huyết động khi sử dụng thuốc ức chế bêta, cung lượng tim cũng không thay đổi nhiều do nhịp tim chậm lại. Nghiên cứu về vấn đề này cũng gặp khó khăn khi đánh giá khả năng gắng sức trên người suy tim, mặt khác các bệnh nhân này cũng được dùng digitalis và ức chế men chuyển.

Hiệu qua trên tỷ lệ bệnh tật

Sử dụng thuốc ức chế Bêta lâu dài làm giãm số lần cần nhập viện vì nguyên nhân tim mạch , vì suy Tim cũng như nhập viện do mọi nguyên nhân . Thuốc cũng làm giảm thời gian nằm viện . Ðặt biệt nghiên cứu CIBIS II tỷ lệ bệnh tật giảm vượt trội hẳn so với các thuốc khác ( Bảng 2 )