
Tác động của thuốc ức chế bêta trên nồng độ NE trong máu

Sau khi dùng bucindolol 3 tháng trên các bệnh nhân bị bệnh cơ tim giãn nở, người ta nhận thấy nồng độ NE/máu giảm 50%. Thuốc ức chế bêta còn ngăn chận được tác dụng độc trực tiếp của NE đối với cơ tim. Tuy nhiên các nghiên cứu sử dụng ức chế bêta trong suy tim cho kết quả không hằng định đối với tác dụng giảm NE/máu. Khi đo nồng độ NE tại xoang vành (phản ánh hoạt tính của hệ giao cảm tại tim chính xác hơn NE/máu), các nghiên cứu cũng cho kết quả khác nhau. Carvedilol làm giảm NE/xoang vành trong khi metoprolol không làm giảm(6).
Ở cơ tim bình thường, thụ thể bêta-1 chiếm ưu thế. Trong suy tim, mật độ thụ thể bêta-1 bị giảm 60-70%: hiện tượng "điều chỉnh xuống" (down - regulation). Sự giảm sút thụ thể bêta 1 có thể do giảm tổng hợp hay tăng thoái hóa. Trong khi đó số lượng thụ thể bêta-2 không thay đổi, do đó tỷ lệ beta-2/bêta-1 gia tăng.
Ở mặt trong màng tế bào còn có protein G, có vai trò liên kết giữa thụ thể bêta và men adenyl cyclase liên quan đến sự co thắt của cơ tim. Protein G có 2 loại: Gs (kích thích) và Gi (ức chế).
Catecholamin trong máu hoạt hóa thụ thể bêta tác động lên phức hợp thụ thể-protein G-adenyl cyclase. Trong trạng thái bình thường, NE kích thích thụ thể bêta-1 hoạt hóa protein Gs (kích thích) làm tăng adenyl cyclase. Adenyl cyclase tăng sẽ làm tăng AMP vòng (cAMP), dẫn đến tăng nồng độ ion canxi trong tế bào cơ tim và gây co cơ (H.3). Sự hoạt hóa thụ thể bêta-2 và alpha-1 không quan trọng. Khi cơ tim bị suy, mật độ thụ thể bêta-1 giảm 60-70%, thụ thể bêta-2 không được ghép cặp (uncoupled) tăng 30% và hoạt động của protein Gi (ức chế) tăng 30-40%.
Như vậy, dù cho có tăng nồng độ catecholamin trong máu, sự mất nhạy cảm của thụ thể bêta dẫn đến giảm chức năng co bóp của cơ tim.
