Việc chọn lựa vị trí sinh thiết có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả của thủ thuật.
Theo Satoshi Kitamura 1987:
+ Tổn thương khu trú: sinh thiết vùng khối u.
+ Tổn thương lan tỏa 2 phế trường: có thể sinh thiết B8a, B8b, B9a, B9b, B10a, B10b, B3a.
+ Nên ưu tiên STPXPQ bên phổi phải hơn trái vì phế trường trái không bị bóng tim che khuất. Tỉ lệ tràn khí màng phổi một bên xảy ra sau thủ thuật # 1 ® 5%. Không nên sinh thiết đồng thời hai bên phổi vì có nguy cơ gây tràn khí màng phổi hai bên làm chết bệnh nhân.
+ Ở thùy giữa B4, B5: không tiện lợi cho STPXPQ, nguy cơ gây thủng màng phổi tạng cao hơn so với sinh thiết ở các thùy phổi vì thể tích thùy giữa nhỏ và nó nằm giữa thùy trên và dưới.
+ Vị trí B3b bên trái, B6: khi bệnh nhân ở tư thế nằm các nhánh phế quản này thẳng đứng nên rất khó định vị forceps.
Vị trí sinh thiết còn cân nhắc theo chẩn đoán sơ bộ nghi ngờ nhất:
+ Bệnh phổi lan tỏa 2 bên chưa rõ căn nguyên: sinh thiết ở thùy trên hoặc / và dưới.
+ Viêm phổi dị ứng, xơ phổi: chủ yếu thùy dưới.
+ Sarcoidose phổi: vị trí sinh thiết chọn lựa ưu tiên là thùy trên vì mẫu bệnh phẩm cung cấp nhiều thông tin chẩn đoán hơn là sinh thiết ở thùy dưới.
Trong những trường hợp nên trên các mẫu mô lấy gần màng phổi tạng sẽ có nhiều phế nang và thành của tiểu phế quản giúp ích cho chẩn đoán giải phẫu bệnh.
w Sau khi gây tê vùng hầu họng bệnh nhân, ống nội soi phế quản đưa qua mũi xuống thanh môn, thanh khí quản, trước khi ống nội soi phế quản đi đến đâu thì tiếp tục gây tê tại chỗ với dung dịch Lidocain 2% qua ống nội soi phế quản.
w Ðịnh vị lỗ phế quản cần cho việc sinh thiết thường dựa vào phim phổi có sẵn kết hợp sang thương thực tế quan sát được trong thời điểm nội soi.
w Luồn forceps sinh thiết vào ống nội soi phế quản sau đó dưới sự hướng dẫn của màn hình tia X đầu kềm sinh thiết trong tư thế đóng, được thận trọng đẩy về phía khối u hay vùng tổn thương, ra đến màng phổi thành cho tới khi bệnh nhân có cảm giác đau ở thành ngực thì ngay lập tức bác sĩ làm thủ thuật rút kềm sinh thiết lùi ra # 1cm.
w Quan sát lại vị trí forceps ở vùng ngoại biên dưới sự hướng dẫn của màn huỳnh quang tăng sáng.
w Nhẹ nhàng kéo forceps về phía sau thêm 3cm, lúc này kềm sinh thiết vẫn trong tư thế đóng.
w Yêu cầu bệnh nhân hít sâu vào, khi bệnh nhân thở ra chậm thì nhẹ nhàng vừa đẩy, vừa mở forceps tới trước, ra ngoại biên chừa khoảng cách phổi và đầu forceps # 1cm.
w Bấm forceps lại, rút kềm ra khỏi ống nội soi sinh thiết.
w Quan sát trên màn hình xem chỗ vừa sinh thiết có chảy máu không. Thông thường chảy máu có thể tự cầm trong vòng 3 phút.
Các biến chứng có thể gặp:
+ Co thắt thanh quản thường liên quan đến việc gây tê, thuốc tê.
+ Các biến chứng liên quan trực tiếp đến thao tác của thủ thuật: ho ra máu, tràn khí màng phổi, chết, gẫy forcep trong lúc làm thủ thuật.
Xuất độ các biến chứng kể trên thay đổi tùy theo từng nhóm nghiên cứu. Nhìn chung người ta nhận thấy:
- Nhiễm trùng sau thủ thuật gây sốt # 16%: thường xảy ra trong vòng 1 ngày đến 3 ngày sau sinh thiết. Trên X-quang phổi một số trường hợp có tổn thương thâm nhiễm 2 phế trường, nhưng không có bằng chứng nhiễm trùng, có lẽ các tổn thương này là do xẹp phổi hơn là viêm phổi.
- Tràn khí màng phổi # 19%: Ghi nhận được trong các trường hợp sau đây:
STPXPQ không có sự hỗ trợ của chiếu X-quang phổi 2 chiều.
w Sang thương phổi nằm sát ở ngoại biên.
w Phổi có bóng .
w Cơ địa suy giảm miễn dịch (18% so với cơ địa không suy giảm miễn dịch 8%)
w Bệnh nhân đang được thông khí cơ học.
- Ho ra máu 0 ®
26%:
w Cơ địa suy giảm miễn dịch (18% so với cơ địa không suy giảm mục đích 4%)
w Tăng uré máu (nguy cơ ho ra máu cao gấp 3 lần ở người không tăng uré máu)
w Ở các bệnh nhân có các bệnh về máu như leucémie, lymphoma, polycytémia.
- Chết # 0,5%
Quan sát mức độ chảy máu ở chỗ vừa mới sinh thiết qua màn hình X-quang.
Nếu máu chảy ra nhiều thì xử trí bằng cách đưa ống soi phế quản chèn vào nhánh phế quản vừa mới tiến hành sinh thiết giữ yên trong 2’. Thông thường máu sẽ tự cầm.
Nếu không cầm được máu thì sẽ bơm dung dịch: + Adrénaline 0,1% pha 10ml N/S vào nhánh phế quản đó.
+ Hoặc Thrombin (100mg/ml): 5ml vào nhánh phế quản đó.
theo dõi trong vòng 2 phút.
Chụp X-quang phổi kiểm tra lại sau sinh thiết 3 giờ.
- Nếu có xuất huyết thì cho bệnh nhân nằm nghiêng về phía phổi đã sinh thiết, theo dõi mức độ ho ra máu để kịp thời xử trí biến chứng.
- Tràn khí màng phổi nếu có xảy ra thường ở mức độ nhẹ, hiếm khi cần đặt ống dẫn lưu, bệnh nhân chỉ cần nằm nghỉ sẽ hồi phục hoàn toàn.
Sốt: kháng sinh dự phòng
Vị trí khối u:
w Ở vùng trung gian sẽ có nhiều cơ may lấy được bệnh phẩm có xác suất chẩn đoán dương tính cao hơn.
w Ở đỉnh phổi ($ Pancoast Tobias) phương pháp STPXPQ không được ưa chuộng so với những phương pháp khác.
Sinh thiết phổi có chỉ định để có chẩn đoán mô học giúp phân biệt các trường hợp sau đây: viêm phổi do nhiễm trùng cơ hội, xuất huyết trong phổi, viêm phổi mô kẽ do tác dụng phụ của hóa trị liệu.
Các bệnh phổi có tổn thương dạng mô kẽ trên phim phổi có thể là: bệnh bại phổi, viêm phổi do dị ứng, viêm tiểu phế quản lan tỏa, viêm phổi mô kẽ, viêm phổi do thấp khớp...