SINH THIẾT PHỔI XUYÊN PHẾ QUẢN QUA NỘI SOI PHẾ QUẢN
BẰNG ỐNG SOI PHẾ QUẢN QUANG HỌC MỀM

Nguyễn Thị Tố Như *

TÓM TẮT

Sinh thiết phổi xuyên phế quản qua ống nội soi phế quản quang học mềm là một thủ thuật khá an toàn, phương pháp này thích hợp để lấy bệnh phẩm giúp chẩn đoán giải phẫu bệnh hoặc vi trùng học trong những bệnh phổi có thâm nhiễm  nhu mô khu trú hoặc lan tỏa trên phim X-quang phổi. Các tổn thương này gợi ý đến K phổi hoặc bệnh phổi mô kẽ do vi trùng, do rối loạn miễn dịch hay do thải  ghép.

Sinh thiết phổi xuyên phế quản không quá xâm lấn, biến chứng thủ thuật tùy thuộc nhiều vào tay nghề của bác sĩ nội soi phế quản.

SUMMARY

TRANSBRONCHIAL LUNG BIOPSY USING FIBEROPTIC BRONCHOSCOPY

Nguyen Thi To Nhu * Y hoc TP. Ho Chi Minh 2000 * Vol. 4 * No. 2: 72 - 78

Transbronchial lung biopsy using flexible fiberoptic bronchoscope is a fairly safe procedure. This technique is well suited to collect tissue specimens to make a pathological or microbiological diagnosis for lung diseases with located or diffuse infiltrates on the chest X-ray film. These lesions suspect primary or secondary lung cancer or pneumonia because of bacteria, TB, fungus, immunologic disorder or organ transplant rejection. Transbronchial lung biopsy (TBLB) is not so invasive; complication of procedure is depend on skilled hands of bronchoscopits.

 

Trong những năm gần đây để đáp ứng nhu cầu chẩn đoán, điều trị các bệnh lý đường hô hấp, tại một vài cơ sở y tế ở miền Nam có trang bị máy nội soi phế quản quang học mềm.

Nhờ phương tiện chẩn đoán mới này một số kỹ thuật chẩn đoán mới sau đây bước đầu đang được áp dụng hỗ trợ lâm sàng:

+ Quan sát trực tiếp tổn thương cây phế quản.

+ Lấy đàm nhớt ở trong phế quản, làm BAL.

+ Lấy mô từ khối u phế quản, niêm mạc phế quản, nhu mô phổi bằng kềm, kim, bàn chải...

+ Chụp phế quản chọn lọc với thuốc cản quang.

+  Sinh thiết phổi xuyên phế quản (STPXPQ).

Hiện nay kỹ thuật nội soi phế quản bằng ống soi mềm có nhiều cải tiến so với lúc mới được áp dụng vào lâm sàng. Trong những năm 1970, chỉ định STPXPQ qua nội soi phế quản bằng ống soi mềm quang học chỉ được thực hiện cho các bệnh nhân điều trị nội trú thì trong những năm gần đây tại một vài nước đã áp dụng sinh thiết xuyên phế quản qua nội soi phế quản (NSPQ) cho cả các bệnh nhân của khoa phổi được theo dõi điều trị ngoại trú. Trong điều kiện  thực tế của Việt Nam thủ thuật này chưa được áp dụng rộng rãi, do đó trong bài này chúng tôi chỉ đề cập đến SINH THIẾT PHỔI XUYÊN PHẾ QUẢN QUA NỘI SOI PHẾ QUẢN BẰNG ỐNG SOI MỀM cho các bệnh nhân điều trị nội trú.

DỤNG CỤ

Máy móc

·         Máy NSPQ quang học, mềm

·         Forceps, curette

·         Máy chiếu tia X tăng sáng 2 chiều hoặc dạng cánh tay hình C.

·         Hệ thống nguồn chiếu sáng, TV

·         Oximeter

·         Nguồn oxy

·         Máy hút

·         Tube đựng bệnh phẩm # 20cc với dung dịch N/S.

Thuốc men

w        Thuốc tê: Lidocain 2%, 4%, 5%, 10%, dạng khí dung hoặc dung dịch gây tê, gel.

w        Seduxen ống. 10mg tiêm bắp

w        Atropin ống 1/4mg im.

 Có nhiều loại ống nội soi phế quản quang học mềm kích thước khác nhau có thể sử dụng để làm thủ thuật cho từng trường hợp đặc biệt.

w        BF 10: thông dụng nhất

w        BF 2T10: tiện lợi, vì có thể hút máu chảy trong khi sinh thiết, không cần phải rút kềm sinh thiết ra trong lúc làm thủ thuật.

w        BF 3C10: đường kính ống nội soi phế quản nhỏ, được sử dụng trong các trường hợp bệnh nhân có nhiều nguy cơ xuất huyết.

w        BF 1T-10: kênh hút rộng dành cho những trường hợp bệnh nhân bị chảy máu nhiều.

Các loại forceps có đường kính khoảng 1 ® 2mm, tên gọi của chúng là:

w        FB-19C (Cupped biopsy forceps)

w        FB-15C (Alligator biopsy forceps)

w        CC-3C (Double - jointed curette)

Loại alligator forceps có mặt cắt như răng cá sấu, nên làm rách mô nhiều. Khi dùng sinh thiết màng phổi ngoại biên dễ gây tràn khí màng phổi hơn so với forceps hình chén.

w        Máy chiếu tia X (fluoroscopy) 2 chiều:

Có một vài tác giả nhận thấy là việc sử dụng máy chiếu tia X tăng quang không đem lại kết quả sinh thiết đạt hiệu quả tốt hơn là không sử dụng nó.

Ngược lại có một số công trình nghiên cứu cho thấy STPXPQ dưới sự hướng dẫn của máy quang tuyến X đã đạt được kết quả tốt hơn trước kia, phát hiện kịp thời các biến chứng xảy ra trong lúc sinh thiết, mẫu bệnh phẩm thu được có chất lượng hơn trước kia.

Theo Mark R. Villeneuve và cs. nếu trên phim X quang thường quy phát hiện sang thương phổi lan tỏa 2 phế trường thì có thể sinh thiết mù, nếu trên phim X quang phát hiện sang thương phổi có dạng nốt cục khu trú ngoại biên của phế trường thì có thể sinh thiết dưới sự hướng dẫn của tia X để hạn chế biến chứng trong và sau khi sinh thiết.

CHUẨN BỊ BỆNH NHÂN

- Bệnh nhân được giải thích trước lý do cần làm thủ thuật.

- Có phim phổi phẳng nghiêng qui ước, hoặc CTscan lồng ngực, hoặc phim Bronchography, Tomography phổi.

- Xét nghiệm chức năng hô hấp, đông máu toàn bộ.

- Ðêm trước thủ thuật nếu không có chống chỉ định cho: Séduxen 5mg, 1 viên uống.

- Ngày làm thủ thuật: Nhịn ăn và uống trước 6 giờ và sau thủ thuật 3 giờ:

- Bệnh nhân được gây tê tại chỗ bằng Lidocain 2%, 4%, 10% qua mũi, họng.

     + Seduxen ống 10mg tiêm bắp.

     + Atropin ống 1/4mg. (0,5mg ® 1mg/bệnh nhân) tiêm dưới da.

-   Sau khi gây tê kỹ bệnh nhân được soi phế quản trong tư thế nằm ngửa.

     Cây phế quản được quan sát qua mắt thường, vị trí tổn thương xác định dựa trên phim X-quang phổi thẳng, nghiêng, hoặc trên CT scan phổi đã được chụp trước đó.

     Vị trí STPXPQ dựa trên phim X quang, sự hướng dẫn của máy X quang tăng sáng 2 chiều.