Tỉ lệ nhiễm H.
pylori chung tăng dần theo lứa tuổi. Trong nghiên cứu của
chúng tôi tỉ lệ nhiễm H. pylori tăng dần theo tuổi từ 10 tuổi đến 50 tuổi;
sau lứa tuổi này tỉ lệ nhiễm H.
pylori giảm xuống dần.
Bảng 6. Tỉ
lệ nhiễm H.
pylori chung theo lứa tuổi
|
|
10-20 |
>20-30 |
>30-40 |
>40-50 |
>50-60 |
>60-70 |
>70-80 |
>80 |
Tổng |
|
H.P (+) |
1,3% |
6,8% |
11,8% |
11,8% |
5,7% |
4,6% |
1,9% |
0,3% |
44,2% |
|
H.P (-) |
1,6% |
10,9% |
14,8% |
13,1% |
6,9% |
5,5% |
2,5% |
0,5% |
55,8% |
|
Tổng |
2,9% |
17,7% |
26,6% |
24,9% |
12,6% |
10,1% |
4,4% |
0,8% |
100% |
(p=0,0001)
Cơ cấu giới
nam: nữ trong nghiên cứu đều cho thấy tỉ lệ
nữ đến khám bệnh cao hơn tỉ lệ nam (tỉ số nam: nữ =
4918:5692). Tỉ lệ nữ ở người lớn trong dân số Việt Nam cao
hơn tỉ lệ nam. Như vậy sự phân bố tỉ lệ nam: nữ trong hai
nghiên cứu cắt ngang này phù hợp với sự phân bố tỉ lệ
nam: nữ ở người lớn trong dân số. Ðiều này thể hiện tính
đại diện của mẫu ngẫu nhiên về mặt giới.
Sự phân bố lứa
tuổi dưới 15 tương đối thấp vì phần lớn bệnh nhân này
thường đến khám tại các trung tâm nhi khoa hoặc các bệnh
viện nhi khoa do quan niệm phân cấp trong khám bệnh. Ngoài ra một
phần do bệnh lý dạ dày tá tràng thường xảy ra ở người
lớn nên tỉ lệ bệnh nhân dưới 15 tuổi thấp.
Tỉ lệ mắc bệnh
chung của viêm loét dạ dày tá tràng ở nam nhiều hơn ở nữ.
Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p=0,000). Trong từng
thể bệnh tỉ lệ mắc bệnh của nam cũng nhiều hơn nữ: tỉ lệ
nam bị viêm, loét và ung thư đều cao hơn tỉ lệ nữ với
p=0,000. Ðiều này phù hợp với các công trình nghiên cứu
khác trong và ngoài nước đã được công bố. Một cuộc điều
tra bằng nội soi ở Finland chỉ ra rằng 1,5% dân số bị loét tá
tràng ở một thời điểm nào đó, và xuất độ trong toàn
cuộc đời là 10% ở nam và 4% ở nữ; 0,3% dân số bị loét
dạ dày (xuất độ trong toàn cuộc đời là 4% ở nam và 3%
ở nữ)(3).
Tỉ lệ mắc bệnh
ở nam cao hơn nữ cũng phù hợp với cơ chế bệnh sinh của
bệnh lý viêm loét dạ dày tá tràng, có lẽ do nhiều yếu tố
phối hợp như: nghề nghiệp, chế độ sinh hoạt ăn uống, tâm
lý,....
Trong số 6.441 bệnh
nhân bị viêm dạ dày tá tràng, tuổi mắc bệnh cao nhất là từ
30 đến 50 tuổi; trong khi đó với 1.633 bệnh nhân bị loét dạ
dày tá tràng, tuổi mắc bệnh cao nhất cũng từ 30 đến 50. Nếu
xét đến tuổi trung bình mắc bệnh, trong nghiên cứu cắt ngang
thứ nhất chúng tôi nhận thấy tuổi trung bình đi nội soi là
42,3; tuổi trung bình bị viêm loét dạ dày tá tràng là 47,5. Như
vậy, tuổi trung bình mắc bệnh của bệnh lý viêm loét dạ dày
tá tràng là ở độ tuổi 40 trở lên. Ở lứa tuổi này bệnh
nhân thường bị bệnh có lẽ do những căng thẳng trong sinh hoạt
đời sống hàng ngày, do nghề nghiệp, chế độ ăn, và hiện
tượng nhiễm H. pylori, ... cần
một thời gian nhất định tác động để phát sinh bệnh loét.
Theo một số tác giả khác trong nước, tuổi mắc bệnh loét
cao nhất cũng từ 31 đến 50, và tuổi trung bình mắc bệnh loét
là 45, tương tự với kết quả nghiên cứu của chúng tôi(2,5).
Ở Anh vào cuối thế kỷ 19, loét dạ dày xảy ra chiếm ưu thế
hơn ở những người phụ nữ trẻ và thường gặp hơn loét
tá tràng, nhưng từ 1900 đến 1960 xuất độ mới mắc loét tá
tràng tăng và loét dạ dày trở nên hiếm gặp ở những người
dưới 40 tuổi. Từ 1960, xuất độ mới mắc của loét tá tràng
không còn tăng nữa và thậm chí có thể giảm. Những biến
động đó có thể là kết quả từ sự thay đổi về những
yếu tố môi trường (như chế độ ăn muối và những vitamin
kháng oxyd hóa, hút thuốc) hoặc từ sự thay đổi về chủng H.
pylori, xuất độ tuổi mắc phải.
Tỉ lệ mắc bệnh
viêm loét dạ dày tá tràng không rõ vì nhiều người không
có triệu chứng và vẫn còn chưa được phát hiện. Ngoài
ra, các tỉ lệ này còn thay đổi theo địa lý và thời gian.
Tỉ lệ mắc bệnh
cao nhất là của viêm dạ dày (60,7%), kế đến là loét dạ dày
hoặc tá tràng (15,4%), các thể bệnh khác (gồm polyp, u, không
tổn thương) và ung thư dạ dày chiếm tỉ lệ 1%. Ðiều này cũng
phù hợp với các công trình nghiên cứu khác về bệnh lý
ở đường tiêu hóa trên, loét dạ dày tá tràng đứng hàng
thứ hai sau viêm dạ dày tá tràng; trong loét dạ dày tá tràng
thì loét tá tràng có tần xuất bệnh cao hơn loét dạ dày và
ung thư dạ dày chiếm tỉ lệ thấp hơn(1,9,13,14).
Trong nghiên cứu
của chúng tôi, loét tá tràng (chiếm tỉ lệ 51,9%) thường gặp
hơn loét dạ dày (chiếm tỉ lệ 39,7%); sự khác biệt giữa loét
tá tràng và loét dạ dày trong nghiên cứu có ý nghĩa đáng
kể về mặt thống kê (với p=0,000). Loét tá tràng thường gặp
hơn loét dạ dày có lẽ do niêm mạc tá tràng không chịu
đựng được môi trường acid - pepsin, do tình trạng tăng tiết
acid căn bản, tăng tiết acid mạnh hơn về ban đêm, khi kích thích
và sự tiết acid đáp ứng kéo dài sau khi ăn. Do hoạt tính
tiêu hủy, acid chlorhydric có khả năng làm thay đổi cấu trúc
của chất nhầy và do nồng độ ion H+ cao nó dễ khuếch
tán ngược vào lòng mạch, sự tiết acid tạo thành môi trường
ăn mòn tiềm tàng đối với niêm mạc dạ dày tá tràng. Sự
tăng tiết này có lẽ do tăng trương lực phế vị, quá mẫn với
những chất gây tiết acid. Ngoài ra trong loét tá tràng sự làm
trống dạ dày xảy ra nhanh, làm tá tràng phải chịu đựng một
lượng acid lớn thuận lợi cho việc gây loét. Trong nhiều quốc
gia, loét tá tràng xảy ra thường hơn loét dạ dày gấp ba lần;
ngược lại ở Nhật, Sri Lanka, Andes và một vài đảo ở phía
bắc Norway loét dạ dày lại xảy ra với tỉ lệ nhiều hơn loét
tá tràng(3).
Trong 10.601 bệnh
nhân, có 10.451 bệnh nhân được làm thử nghiệm phát hiện
men urease của vi khuẩn, các bệnh nhân còn lại không được
thử nghiệm vì nhiều lý do như có xuất huyết tiêu hóa trong
lúc soi, tổn thương ung thư dạ dày lan rộng, xơ gan nặng nguy cơ
chảy máu cao. Tỉ lệ nhiễm H.
pylori chung của bệnh lý dạ dày tá tràng là 44,2%, trong đó
tỉ lệ nhiễm H. pylori ở nam cao hơn ở nữ, và sự khác biệt này
có ý nghĩa về mặt thống kê (45,6% so với 42,9%, với p=0,005).
Ðiều này cũng phù hợp với kết quả nam mắc bệnh nhiều hơn
nữ có thể lý giải là hút thuốc lá và sự hiện diện của
các chủng vi khuẩn có độc lực cao làm tăng nguy cơ loét
ở người nam hơn nữ như các trình bày ở phần trên. Trong
số 6447 bệnh nhân bị viêm dạ dày có 44,8% bệnh nhân có nhiễm
H. pylori kèm theo. Bệnh nhân
nhiễm H. pylori có nguy cơ bị
viêm dạ dày nhiều hơn người không bị nhiễm. Tuy nhiên, dựa
vào phân tích thống kê chúng tôi nhận thấy mối liên quan giữa
nhiễm H. pylori và viêm dạ dày
không chặt chẽ (tỉ số chênh = 1,07 với p=0,09). Ðối với loét
dạ dày tá tràng, trong số 1629 bệnh nhân có 64,5% bị nhiễm H. pylori kèm theo. Qua phân tích thống kê, chúng ta thấy
người bị nhiễm H. pylori có
nguy cơ bị loét dạ dày tá tràng gấp 2,67 lần người không bị
nhiễm, và sự khác biệt này rất có nghĩa về mặt thống kê
(tỉ số chênh = 2,67 với p=0,000). Ðối với ung thư, chúng tôi
ghi nhận được 112 trường hợp. Tuy nhiên do nhiều yếu tố,
như ung thư lan rộng, vị trí ung thư, nguy cơ chảy máu, ... nên chỉ
có 34 trường hợp được thực hiện thử nghiệm phát hiện
men urease của vi khuẩn, với tỉ lệ dương tính là 38,2%. Vì vậy,
khó có thể rút ra những hệ quả chính xác về mối liên
quan giữa tình trạng nhiễm H.
pylori với ung thư dạ dày; điều này cần được tiếp tục
nghiên cứu. So với các công trình khác, tỉ lệ nhiễm H.
pylori nhiều nhất là loét tá tràng, ung thư dạ dày
(77,77%), sau đó đến viêm dạ dày (74,55%), loét dạ dày, viêm
tá tràng (53,12%)(10). Trong một công trình khác, tỉ lệ
H. pylori dương tính trong viêm
dạ dày tá tràng 81,48%; loét dạ dày tá tràng 83,57%; ung thư
dạ dày 62,79%(1). Các kết quả này cho thấy nhiễm H.
pylori có liên quan với viêm loét dạ dày tá tràng. Tỉ lệ
nhiễm H. pylori của chúng tôi
tương đối thấp hơn các trong các nghiên cứu khác có lẽ do
bệnh nhân đã điều trị trước khi đến nội soi.
Các tỉ lệ nhiễm
H. pylori trong loét của chúng
tôi tương tự với các nghiên cứu khác, còn trong viêm tỉ
lệ nhiễm tương đối thấp hơn các nghiên cứu khác(4,7,8).
Trong 80 trường hợp nội soi dạ dày ở bệnh viện Nhân Dân
Gia Ðịnh tỉ lệ H. pylori dương
tính đối với loét dạ dày là 83%, và đối với loét tá
tràng là 85%(15). Như vậy, có sự tương quan chặt chẽ
giữa viêm loét dạ dày tá tràng với nhiễm H.
pylori ở niêm mạc dạ dày. Trong nghiên cứu chúng tôi cũng
nhận thấy, một số bệnh nhân có triệu chứng nhưng không phát
hiện viêm hoặc loét qua nội soi có tỉ lệ nhiễm H.
pylori cũng tương đối cao (75%); chiến lược điều trị cho những
bệnh nhân này đến nay vẫn chưa được thống nhất.
Nhiễm trùng H.
pylori là một trong những căn nguyên làm phát sinh loét; do
vậy, tỉ lệ nhiễm H. pylori trong loét tá tràng cao hơn cũng góp phần giải
thích tại sao loét tá tràng có xuất độ mắc bệnh cao hơn loét
dạ dày.
Tóm lại, có mối
liên quan chặt chẽ giữa tình trạng nhiễm H.
pylori và loét dạ dày tá tràng(6,12). Nhiễm H.
pylori làm tăng nguy cơ loét dạ dày tá tràng(11).
Nhiễm trùng H. pylori là một trong những nguyên nhân chính gây loét
dạ dày tá tràng (loét dạ dày và/ hoặc loét tá tràng).
Hiện nay có nhiều bằng chứng ủng hộ mạnh mẽ mối tương
quan nhân quả giữa nhiễm trùng H.
pylori và loét dạ dày tá tràng. Việc chứng minh nhiễm trùng
H. pylori là nguyên nhân chính
gây loét dạ dày tá tràng là một cuộc cách mạng trong điều
trị bệnh loét dạ dày tá tràng. Ðiều trị chống nhiễm trùng
thành công, đơn thuần hoặc phối hợp với các thuốc ức
chế acid, đẩy mạnh việc làm lành loét, ngăn ngừa tái phát,
và làm thay đổi rõ ràng diễn biến tự nhiên của loét dạ
dày.
Trong nghiên cứu
chúng tôi nhận thấy tỉ lệ nhiễm H.
pylori chung của giới nam cao hơn nữ (45,6% và 42,9% tương ứng
với giới nam và nữ với p=0,005). Ðiều này có thể giải
thích do cách ăn uống sinh hoạt của nam khiến nam bị nhiễm H.
pylori cao hơn nữ. Như vậy, kết quả này cũng góp phần lý
giải tại sao nam bị loét nhiều hơn nữ.
Trong nghiên cứu,
nhóm tuổi nhiễm H. pylori cao
nhất là 31-50 tuổi, sau lứa tuổi này tỉ lệ nhiễm khuẩn giảm
dần. Nhìn chung lứa tuổi 50 là lứa tuổi có tỉ lệ nhiễm H. pylori cao nhất. So với một công trình nghiên cứu
khác tuổi nhiễm H. pylori cao
nhất 51-60 tuổi(10) kết quả này so với nghiên cứu
của chúng tôi không tuyệt đối phù hợp có lẽ do phần lớn
bệnh nhân đến nội soi là có bệnh, không đại diện cho dân
số trong cộng đồng.
Qua nghiên cứu
điều tra cắt ngang trên 10.610 bệnh nhân bệnh lý dạ dày tá
tràng tại phòng khám đa khoa trường đại học Y Dược thành
phố Hồ Chí Minh chúng tôi rút ra các kết luận sau:
- Tỉ lệ viêm dạ
dày (60,7%), loét dạ dày tá tràng (15,4%) trong đó loét tá
tràng chiếm tỉ lệ 51,9% và ung thư dạ dày (1%) trong bệnh lý
đường tiêu hóa trên.
- Tỉ lệ nhiễm H.
pylori trong loét dạ dày tá tràng (64,5%), viêm dạ dày
(44,8%).
- Nhiễm H.
pylori làm tăng nguy cơ bị loét dạ dày tá tràng cao hơn người
không bị nhiễm gấp 2,67 lần, và viêm dạ dày 1,07 lần.
- Trong điều kiện
của chúng ta hiện nay, nội soi đã phát triển hầu như rộng
khắp, hầu hết các bệnh viện lớn trong các thành phố và các
tỉnh đều có nội soi, giúp chẩn đoán bệnh lý ở dạ dày
tá tràng. Ðể chẩn đoán nhiễm H.
pylori chỉ cần làm thêm thử nghiệm phát hiện men urease của
vi khuẩn H. pylori một cách thường qui cho tất cả những bệnh
nhân có điều kiện nội soi hoặc cho bệnh nhân nội soi có tổn
thương là đủ.
1. Bùi Văn Lạc. Chẩn đoán nội soi các bệnh lý ở thực quản, dạ dày, tá tràng qua 10.235 trường hợp. Tạp chí Y học thực hành tháng 5, 1997; 48-9.
2. Bùi Văn Lạc. Ðiều trị bệnh loét dạ dày tá tràng ở người Việt Nam bằng phác đồ Lansoprazole-Amoxicillin-Metronidazole. Tạp chí Y học thực hành số 4, 1997; 30-2.
3. Calam J. Gastritis and Peptic Ulcer. Medicine International, Gastroenterology Dec 1998; 43 (12): 11-5.
4. Ðoàn Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Ngọc Hàm, Nguyễn Thị Tân, Nguyễn Khánh Trạch, Magard C. Sự kết hợp Helicobacter pylori với viêm loét dạ dày tá tràng qua kết quả xét nghiệm vi sinh vật từ bệnh phẩm sinh thiết niêm mạc dạ dày. Nội khoa (chuyên đề Tiêu hóa) số 1, 1992; 13-5.
5. Lê Ngọc Quỳnh và cộng sự. Kiểm tra đánh giá bằng nội soi tiêu hhóa đối với bệnh nhân loét dạ dày tá tràng trước và sau điều trị. Tạp chí Y học thực hành số 12, 1996; 43-4.
6. Marshall B.J. Helicobacter pylori. Am J Gastroenterol 1994; 89: S 116-28.
7. Marshall BJ, Warren JR, Francis GJ, et al. Rapid urease test in the management of Campylobacter pyloritis associated gastritis. Am J Gastroenterol 1987; 82: 200-10.
8. Marshall BJ, Warren JR. Unidentified curved bacilli in the stomach of patients with gastritis and peptic ulceration. Lancet 1984; i: 1311-5.
9. Nguyễn Lan Hương, Lê Thu Thủy. Nhận xét qua 4767 cas nội soi ống tiêu hóa trên. Chuyên đề tiêu hóa, Tổng hội Y Dược học Việt nam, 1995, số 2: 3-7.
10. Nguyễn Thị Hòa Bình và cộng sự. Tình hình nhiễm Helicobacter pylori ở những bệnh nhân loét dạ dày tá tràng của bệnh viện Ðống Ða Hà Nội. Chuyên đề tiêu hóa, Tổng hội Y Dược học Việt nam, 1995, số 2: 7-10.
11. Nomura A, Stemmermann GN, Chyou PH, Perez-Perez GI, Blaser MJ. Helicobacter pylori Infection and the Risk for Duodenal and Gastric Ulceration. Annals of Internal Medicine. 1994; Vol 120, N. 12, 977-81.
12. O’Connor H.J. The role of Helicobacter pylori in peptic ulcer disease. Scand J Gastroenterol 1994; 29 (suppl 201): 11-15.
13. Phạm Thị Bình, Nguyễn Khánh Trạch. Nhận xét kết quả 1000 trường hợp soi thực quản dạ dày. Chuyên đề tiêu hóa 2, Tổng hội Y Dược học Việt nam, 1995; 40-3.
14. Trần Kiều Miên. Giá trị của nội soi dạ dày hành tá tràng trong bệnh loét dạ dày, tá tràng. Nội khoa 1994; 2: 10-6.
15. Trần Viết Phồn. Ðiều trị tiệt nọc Helicobacter pylori trong loét dạ dày tá tràng. Báo cáo Hội thảo Y Dược Việt Pháp lần thứ ba tháng 12, 1995.