Lê Thượng Vũ[1]
Tần số, dạng loạn nhịp (LN) và các yếu tố tương quan (lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị) được khảo sát bằng điện tâm đồ lưu động trên 45 bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. 100% có LN trên thất và 89% LN thất. Mức độ nặng nhẹ LN biến thiên khá rộng. Hồi quy tuyến tính đa biến ghi nhận tuổi, bicarbonate và kali là các yếu tố tương quan với các dạng khác nhau của LN. LN nên được theo dõi bằng điện tâm đồ lưu động hay monitoring liên tục ở nhóm nguy cơ cao: có ngoại tâm thu trên điện tâm đồ nhập viện, tuổi và nồng độ bicarbonate huyết thanh cao, nồng độ kali thấp. LN giảm với điều trị đợt cấp. Ðiều trị LN trên nhóm bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bao gồm điều trị đợt cấp bằng cải thiện rối loạn thông khí, điện giải kiềm toan. Sử dụng thuốc chống LN đặc hiệu là chưa có chỉ định.
EXAMINING ARRHYTHMIAS IN ACUTE EXARCEBATION OF CHRONIC OBSTRUCTIVE PULMONARY DISEASE BY AMBULATORY ELECTROCARDIOGRAPHY (HOLTER MONITORING).
Le Thuong Vu * Y hoc TP. Ho Chi Minh 2000 * Vol. 4 * N0 2: 103-107
Frequency, morphology of arrhythmias and correlation factors (clinical presentations, laboratory findings and treatment) were examined by ambulatory ECG in 45 patients with acute exacerbation of COPD. Supraventricular arrhythmias were documented in all cases and ventricular arrhythmias in 89% of them. Clinical significance of arrhythmias varied quite widely. Age (in years), serum concentrations of bicarbonate and potassium were correlative with a variety of arrhythmias shown on multiple linear regression analysis. Arrhythmias should be monitored by Holter or other continuously monitoring instruments in high-risk patients: the ones in old age group, with any extrasystole per routine ECG on admission, high serum levels of bicarbonate, and low serum levels of potassium. Acute exacerbation of COPD was improved with management as were arrhythmias. The treatment of arrhythmias in this patient group implied that of acute exarcebation of COPD, including to improve ventilation disorder, and to correct electrolytes and acid-base imbalance. The usage of anti-arrhythmic agents was not recommended.
ÐẶT VẤN ÐỀ
Bệnh phổi tắc
nghẽn mạn tính (BPMTTN) là bệnh thường gặp, năm 1995 ở Mỹ
có khoảng 14 triệu người mắc BPTNMT trong đó khoảng 12,5 triệu
viêm phế quản mãn và 1,65 triệu khí phế thũng. Với xuất mắc
cao và tử suất cao (18,6/100 000), bệnh làø nguyên nhân tử
vong đứng hàng thứ tư tại Mỹ. Khi nghiên cứu các nguyên
nhân tử vong của bệnh, Zielinski nhận thấy ngoài suy hô hấp
cấp trên nền mãn, suy tim, nhiễm trùng phổi, thuyên tắc phổi
và ung thư; LN là nguyên nhân tử vong đáng chú ý mà trên
lâm sàng đôi khi vẫn bị bỏ quên. Ðiều này hoàn toàn không
phải vì loạn nhịp không thường gặp ở bệnh nhân BPTNMT. Ở
bệnh nhân BPTNMT nhập viện 89% có loạn nhịp. Chính vì vậy, LN
đã được khảo sát lần lượt ở nhiều nhóm bệnh nhân
BPTNMT khác nhau trong các nghiên cứu ngoài nước. Trong tình hình
tại nước ta chưa có công trình nào nghiên cứu LN trên bệnh
nhân BPTNMT, chúng tôi tiến hành khảo sát LN trên bệnh nhân
BPTNMT đợt cấp bằng Holter monitoring và qua đó tìm mối tương
quan của LN với các yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng khác.
Bệnh nhân vào viện tại lầu 8B1 khoa Phổi Thận Bệnh viện Chợ Rẫy trong thời gian 15/8/1998 đến 15/2/1999 được chọn lựa dựa vào hai tiêu chuẩn (1) chẩn đoán BPTNMT theo định nghĩa Hội Lồng ngực Mỹ 1995(1) với lâm sàng viêm phế quản mãn hoặc khí phế thũng, và tắc nghẽn khí đạo được chứng minh bằng chức năng hô hấp với pFEV1 < 80% và FEV1/FVC < 70% (2) khởi phát triệu chứng của đợt cấp: xuất hiện hay gia tăng ho và khó thở, tăng lượng và/hoặc thay đổi tính chất đàm trong vòng 7 ngày kể từ nhập viện. Các bệnh nhân có các tình trạng sau sẽ được loại khỏi nghiên cứu: các tình trạng bệnh lý nặng cản trở việc phối hợp thực hiện chức năng hô hấp: suy thận nặng, suy gan nặng, ung thư, tai biến mạch máu não.... Bệnh nhân được kể là ngoài đợt cấp nếu những triệu chứng của đợt cấp giảm, mất hẳn và duy trì tình trạng ổn định trong 3 ngày liên tiếp. Các bệnh nhân được điều trị tương ứng theo tình trạng nặng của bệnh bằng oxy qua sonde mũi, giãn phế quản phun khí dung, kháng sinh và corticoid. Không thuốc chống loạn nhịp nào được sử dụng (digoxin...vv).
Nghiên cứu mô tả cohort (đoàn hệ) tiền cứu này theo dõi 45 bệnh nhân. Ðiện tâm đồ (ÐTÐ) và X quang lồng ngực thực hiện trong đợt cấp. ÐTÐ lưu động 24 giờ 2 lần trong và ngoài đợt cấp kèm với các xét nghiệm sinh hóa (khí máu, điện giải đồ) tương ứng. Siêu âm tim và chức năng hô hấp thực hiện ngoài đợt cấp. Các xét nghiệm đều được thực hiện bởi các BS bệnh viện Chợ Rẫy không biết kết quả Holter monitoring của bệnh nhân. Các biến số ghi nhận gồm: các dấu lâm sàng nặng (thân nhiệt trên 38,50, tần số hô hấp trên 25l/p, tần số tim trên 110l/p, tím, co kéo cơ hô hấp phụ, vã mồ hôi, rối loạn tri giác, hô hấp nghịch đảo, choáng); bệnh kèm theo (cao huyết áp, bệnh tim thiếu máu cục bộ (BTTMCB), bệnh khác) cận lâm sàng (Kali, Calcium, Magne huyết thanh; PaO2, PaCO2, pH, Bicarbonat huyết thanh) chức năng hô hấp (rFEV1 (thể tích thở ra gắng sức giây đầu thực), FEV1/FVC, pFEV1(thể tích thở ra gắng sức giây đầu so dự đoán)).
Ghi Holter sử dụng
hệ máy đọc-ghi Quickscan 3300-Quickcorder 1200 của FUKUDA M-E KOGYO
CO.,Ltd. Hệ ghi này cho phép ghi nhận điện tim liên tục 24 giờ
qua hai chuyển đạo CM1 và CM5. Kết quả Holter được đọc hai lần
với hai chế độ phân tích bán tự động và thị kiểm nhanh
trên màn hình. Kết quả bản ghi Holter được so sánh với tiêu
chuẩn Holter bình thường theo tuổi(8). Riêng LN thất
được cho điểm theo bảng phân loại Myerburg(13) (bảng
1) với Ðiểm tổng cộng = điểm A + điểm B
Số liệu được xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 7.5. P<0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê. Phép kiểm t cặp đôi (student paired test), thứ hạng có dấu của Wilcoxon (Wilcoxon signed range test) cho hai mẫu liên hệ được sử dụng so sánh số liệu cặp. Fisher exact test hoặc chi bình phương cho bảng 2´2. Hồi quy tuyến tính đa biến nhằm phân tích tương quan giữa LN và các yếu tố giải thích.
[1] Khoa Phổi Thận BV Chợ Rẫy, Bộ môn Nội Trường ÐHYD TP.HCM.