DIỄN TIẾN CỦA CHỨC NĂNG THẬN GHÉP
SAU NĂM ÐẦU TIÊN GHÉP THẬN

 Trần Thị Bích Hương*

TÓM TẮT

Sau năm đầu tiên của ghép thận, ngoại trừ tử vong với mảnh ghép còn hoạt động, thải ghép mãn là nguyên nhân thường gặp nhất gây mất mảnh ghép. Phát hiện sớm và làm chậm tiến trình suy giảm chức năng thận ghép có thể cải thiện chức năng lâu dài của thận ghép.

 Chúng tôi tiến hành vẽ đường cong creatinine của từng bệnh nhân trong nhóm 105 bệnh nhân ghép thận lần đầu tiên được theo dõi tại Bệnh Viện Brigham and Women, Boston, Massachusettts, Mỹ.. Thời gian theo dõi tối thiểu là 2 năm.Từ 105 đường cong biểu diễn chức năng thận này, chúng tôi mô tả 5 nhóm đường cong chức năng thận ghép khác nhau. Hơn 60% bệnh nhân có đỉnh cao của chức năng thận lúc 6 tháng, những bệnh nhân còn lại đạt đỉnh trễ hơn vào 1 năm đến hơn 4 năm sau ghép. Phần lớn các thay đổi chức năng thận xuất hiện ngay sau đĩnh cao và phần đầu của sự thay đổi này biểu thị rõ trong khoảng thời gian từ 6 tháng đến 1 năm. Những biến thiên của giai đoạn này phần nào phản ảnh phần còn lại của đường biểu diễn. Theo dõi sát giai đoạn này giúp xác định những trường hợp diễn tiến nặng cần sinh thiết. Không có sự khác biệt về việc trì hoãn chức năng thận ghép và loại thận ghép trong 5 nhóm chức năng thận.

SUMMARY

THE PROGRESS OF GRAFT FUNCTION AFTER THE FIRST YEAR OF KIDNEY TRANSPLANTATION

 Tran thi Bich Huong * Y hoc TP. Ho Chi Minh 2000 * Vol. 4 * N0 2: 94-100

After the first year post renal transplant, the most common cause of graft loss, except death with functionning graft, is chronic rejection. Early detection and timing slowing down the progress of declining graft function can improve the long term graft function.

Individual 1/creatinine slope curve of 105 first renal allografts, who were followed at the Brigham and Women’s Hospital, Boston, Massachusetts, USA, were drawn. Minimal follow-up time was 2 years post transplant. From 105 individual graft function curves, five different groups of allograft function curve were described. More than 60% or the patients had the peak of graft function at 6 months, others reached later at 1 year to 4 years post transplant. The majority of changing graft function appeared after the peak and the initiation of this alteration clearly showed at the interval between 6 months to 1 year. The varieties of this interval can partially reflex the remained graft function curve. Following strictly this particular interval was suggested to identify the worsening case to biopsy. Delayed graft function and typing of transplant weren’t different between these 5 allograft function groups.

MỞ ÐẦU

 Một năm sau ghép thận được xem là thước đo hiệu quả của các thuốc ức chế miễn dịch mới trong ghép thận, đó là vì hầu hết các thận ghép bị thải loại trong năm đầu tiên vì thải ghép cấp. Theo báo cáo hằng năm của Hệ Thống Số Liệu về Thận của toàn nước Mỹ(US Renal Data System, USRDS), tháng 4 năm 1999(11), thì với việc sử dụng cyclosporine từ năm 1983, tỷ suất thận ghép mất chức năng sau ghép 1 năm đã giảm một cách đáng kể từ 25% năm 1987, xuống còn 11,7% năm 1996, cho cả thận từ người chết và người sống. Việc giảm tỷ lệ này đi kèm với việc cải thiện phần nào chức năng thận ghép sau 1 năm(15) Trên thận ghép lấy từ người chết, tỷ suất thận ghép còn hoạt động sau 5 năm chỉ tăng từ 51,3% (trong năm1986-1987) lên 59,8% (trong năm 1990-1991)(11). Trên thận từ người sống, tỷ xuất thận ghép còn hoạt động sau 5 năm tăng từ 69% (trong năm 1986-1987) đến 75,2% (trong năm 1992-1993).

Tuy nguy cơ bị thải ghép cấp đã giảm một cách đáng kể sau năm đầu tiên, song về lâu dài thận ghép vẫn bị đe dọa bởi yếu tố miễn dịch là thải ghép mãn (chronic rejection) và các yếu tố không miễn dịch (non-immunologic factors) như bệnh thận cơ bản tái phát, ngộ độc cyclosporine A, cao huyết áp...(5,6,8,9). Với sự gia tăng sử dụng cyclosporine A, cùng việc mở rộng hạn tuổi được ghép thận khiến nguyên nhân hàng đầu (trên 50%) gây giảm tỷ lệ thận ghép sau năm đầu tiên là tử vong với thận ghép còn chức năng (functionning graft loss). Ðó là những trường hợp tử vong do bệnh lý tim mạch (16-36%), bệnh lý ác tính (11-21%), nhiễm trùng (18-20%)...(11).

Những bệnh nhân đã qua một năm đầu tiên đầy thử thách này thường tự hỏi chức năng thận ghép về lâu dài sẽ diễn tiến theo chiều hường nào? Liệu việc đánh giá chức năng thận sớm ngay sau ghép, 6 tháng sau ghép hoặc một năm có thể gíúp ta ước đóán diễn tiến lâu dài này không? Ðó chính là mục tiêu nghiên cứu của đề tài này

ÐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Ðây là nghiên cứu mô tả Cohort hồi cứu trên các bệnh nhân đưọc khám và theo dõi thận ghép tại khu phòng khám của Bệnh Viện Brigham and Women, Viện Trường Ðại Học Y Khoa Harvard, Boston, Massachusetts, Mỹ. 105 bệnh nhân hội đủ tiệu chuẩn là những trường hợp ghép thận lần đầu và được theo dõi thường xuyên trong thời gian ít nhất 2 năm sau ghép tại bệnh viện được đưa vào nghiên cứu. Những trường hợp mảnh ghép bị thải trong năm đầu tiên được loại khỏi nghiên cứu.

Creatinine huyết thanh được ghi nhận từ trước ghép, 1 tuần sau ghép, 6 tháng, 1 năm và những năm sau và trong lần khám cuối cùng trong năm 1999. Biểu đồ diễn tiến cuả chức năng thận ghép được biểu thị bằng sự biến thiên của 1/creatinine huyết thanh theo thời gian.

Trĩ hoãn chức năng thận ngay sau ghép được định nghĩa là bệnh nhân cần phải chạy thận nhân tạo trong tuần đâù tiên sau ghép thận. Các bệnh nhân có bất kỳ sự suy giảm chức năng thận hoặc xuất hiện đột ngột tiểu đạm, tiểu máu đều được đánh giá nguyên nhân bằng sinh thiết thận ghép dưới siêu âm.

Dạng đường biểu diễn chức năng thận ghép được mô tả cho từng bệnh nhân và sau đó những đường biểu diễn tương tự được xếp vào cùng một nhóm. Các nhóm đường biểu diễn thường gặp được mô tả và phân tích. Các đơn biến được phân tích theo phép kiểm Student’s t test, các biến định lượng và phân nhóm được phân tích theo ANOVA và phép kiểm Chi bình phương. Các số liệu và biểu đồ đươc phân tích theo phần mềm thống kê JMP