ÐÁNH GIA ÙÐỘNG MẠCH THẬN BẰNG SIÊU ÂM DOPPLER

Nguyễn Văn Trí

TÓM TẮT

40 người bình thường được khảo sát bằng siêu âm doppler tại động mạch thận. Phổ doppler của động mạch thận phải và trái khác nhau không có ý nghĩa thống kê. Phổ doppler tại nơi xuất phát động mạch thận so với động mạch thận tại rốn thận cũng khác nhau không có ý nghĩa thống kê.

38 động mạch thận của 19 bệnh nhân tăng huyết áp được khảo sát bằng siêu âm doppler có chụp dộng mạch thận cản quang chọn lọc. Doppler cho kết quả có 13 động mạch thận bị hẹp tương ứng với chụp động mạch thận có cản quang cho kết quả 12 trường hợp. 25 động mạch thận được xác định bình thường trên trên siêu âm, có 1 hẹp trên chụp động mạch thận. Cho kết qủa độ nhạy 92,3%, độ chuyên biệt 96%, gía trị tiên đoán dương 92,3% và gía trị tiên đoán âm 96%. Một trường hợp dương tính giả do là ca đầu tiên chưa có kinh nghiệm nên đánh gía sai. Một ca âm tính giả do không tuân thủ đúng kỹ thuật nên bắt nhầm tuần hoàn bàng hệ cạnh thận.

Kết quả nhận được rất giống kết quả được rút ra từ chẩn đoán hẹp động mạch cảnh qua siêu âm doppler đã được nghiên cứu rất nhiều. Siêu âm doppler là một kỹ thuật không quá khó, không gây sang chấn, máy siêu âm rất phổ biến; do đó siêu âm doppler là phương tiện thích hợp cần được nghĩ tới trước tiên để phát hiện bất thường động mạch thận ở bệnh nhân tăng huyết áp có nghi ngờ do động mạch thận.

SUMMARY

EVALUATION OF DOPPLER FOR RENAL ARTERY

Nguyen Van Tri. * Y hoc TP. Ho Chi Minh 2000 * Vol. 4 * N0 2: 108-110

40 volunteers were studied prospectively. Doppler spectra of left and right main renal acteries are not significantly different. Mean velocity, acceleration time, and shape of the distal ends were not significantly different when compared with the proximal ends.

38 renal arteries of 19 hypertensive patients were studied. Traditional angiography was a standard reference. 13 renal arteries showed stenosis with the doppler and 12 of those have stenosis on angiography. 25 normal renal arteries were on doppler but 24 on angiography with sensitivity 92.3%, specificity 96%, predictive value positive 92.3% and preditive value negative 96%.

The results were very much the same as that of the carotid artery stenosis which were studied previously. Doppler evalution of renal arteries are not dificult in technique, so that duplex sonography is a suitable primary diagnostic tool for detection of sugested renovascular hypertension before the next diagnostic steps in Viet nam.

ÐẶT VẤN ÐỀ

Sự phát triển của siêu âm màu Doppler trong thập niên 80 đã mở ra một khả năng mới cho việc phát hiện bất thường động mạch thận ở bệnh nhân tăng huyết áp có nghi ngờ do hẹp động mạch thận. Ðiểm nổi bật của phương pháp này là VÔ HẠI, có thể thực hiện RỘNG RÃI và RẺ TIỀN.

Ở nước ta, máy siêu âm màu Doppler đã được trang bị rộng rãi, trong khi các phương pháp khác như chụp động mạch thận cản quang, xạ đồ thận với captopril, chụp động mạch thận cộng hưởng từ ... chưa được phổ biến rộng vì đắt tiền hoặc có thể gây biến chứng nặng.

Mục đích của đề tài là bước đầu đánh giá hẹp động mạch thận bằng siêu âm Doppler so sánh với kết quả chụp động mạch thận cản quang.

PHƯƠNG PHÁP

26 động mạch thận của 13 bệnh nhân tăng huyết áp được khảo sát bằng siêu âm Doppler tuổi từ 20 - 38 gồm 6 nam, 7 nữ nhập viện tại lầu 7B3 bệnh viện Chợ Rẫy trong 3 năm từ 1995 -1997 với chẩn đoán là tăng huyết áp người trẻ nghi do hẹp động mạch thận.

Tiêu chuẩn chẩn đoán hẹp động mạch thận dựa trên siêu âm là :

· Chỉ số động mạch thận chỗ hẹp và động mạch chủ bụng tại chỗ xuất phát động mạch thận (renal aortic ratio) lớn hơn 3,5 và vận tốc tâm thu tối đa của chỗ hẹp động mạch thận lớn hơn 180cm/s và hoặc

· Phổ Doppler ở đầu xa nhánh chính động mạch thận thấp hoặc mất về vận tốc tâm thu và thời gian gia tốc tâm thu (pulsus tardus) kéo dài khi so sánh với đầu gần nhánh chính động mạch thận cùng bên cũng như khi so sánh với đầu xa của nhánh chính động mạch thận đối diện (bình thường)

Chụp động mạch thận cản quang được thực hiện trên 26 động mạch thận này. Ðộ hẹp được tính theo công thức của NASCET - CRITERIA(2): 100 x (1 - A/B), A là đường kính chỗ hẹp nhất của động mạch thận, B là đường kính bình thường của động mạch thận ở kế chỗ dãn sau hẹp.

40 người bình thường tuổi từ 16 đến 40 gồm 22 nam và 18 nữ được khảo sát phổ Doppler tại động mạch thận ở 2 điểm nơi xuất phát ngay động mạch chủ bụng và nơi đổ vào rốn thận, và tại động mạch chủ bụng để làm lô chứng.

KẾT QUẢ

·· Người bình thường

     ·Bảng phổ Doppler

 

Vmax (cm/s)

Thời gian gia tốc(giây)

 

Phải

Trái

P

Phải

Trái

P

Gốc

62,2 ± 13,2

60,2 ± 13,8

0,5

68,8 ± 13,3

64,8 ± 13,2

0,19

Rốn

55 ± 16,6

58,5 ± 12,4

0,5

63,5±13,5

63±9,5

0,85

P

0,06

0,4

 

0,1

0,2

 

Vgốc

Vrốn

1,37 ± 0,47

1,29 ± 0,32

0,425

 

Vgốc

VÐMC

1,2 ± 0,3

1,1 ± 0,3

0,686

· Có 2 trường hợp không khảo sát được phổ Doppler động mạch thận tại nơi xuất phát động mạch chủ bụng.

· Hình dạng, vận tốc tối đa, thời gian gia tốc giữa đầu gần và đầu xa của 2 động mạch thận (P) và (T) khác nhau không ý nghĩa thống kê.

·· Bệnh nhân tăng huyết áp:

· Bảng kết quả so sánh giữa siêu âm và chụp động mạch thận cản quang :

Chụp ÐMT

Hẹp

Không hẹp

Hẹp

12

1

Không

01

24

· Siêu âm cho kết quả 7 trường hợp nghi ngờ có hẹp đông mạch thận và được kiểm tra bằng chụp động mạch thận cản quang xác định có 6 trường hợp hẹp, tất cả đều hẹp trên 60% đường kính.

 · Siêu âm cho kết quả 19 trường hợp bình thường và chụp động mạch thận cản quang cũng xác định đúng như vậy.

BÀN LUẬN

· Tần suất phát hiện được động mạch thận ở người bình thường là 38/40 trường hợp. Hai trường hợp không khảo sát được gốc động mạch thận gồm 1 nam và 1 nữ.

Theo Daniel Fruechte và William J. Zwiebel(1); và tác giả người Pháp Michel Dauzat(4) đồng nhận xét rằng gốc động mạch thận khó phát hiện trên siêu âm. Chúng tôi phát hiện được với tần suất tương đối cao (95%). Có lẽ do người Việt Nam có thành bụng mỏng hơn người châu Âu và người châu Mỹ.

· Các thông số giữa động mạch thận phải và trái ở người bình thường không khác nhau, cũng như thông số giữa động mạch thận tại gốc và động mạch thận tại rốn cũng không khác nhau (T test với P > 0.05). Do đó những thông số giữa hai động mạch thận trên cùng một cá nhân mà khác nhau đáng kể sẽ gợi ý có bất thường về một trong hai động mạch thận.

· Siêu âm Doppler cho kết quả bình thường ở 19 động mạch thận có kiểm chứng bằng chụp động mạch cản quang.. Tuy số lượng nghiên cứu chưa nhiều nhưng bước đầu cho thấy kết quả tương tự với nhiều nghiên cứu của các tác giả nước ngoài. Ðiều này nói lên khả năng chẩn đoán loại trừ bệnh nhân tăng huyết áp có hẹp động mạch thận khá cao.

· Siêu âm Doppler cho kết quả hẹp ở 7 động mạch thận, chụp động mạch thận cản quang kiểm chứng cho kết quả 6 trường hợp hẹp > 60% đường kính động mạch thận và 1 trường hợp động mạch thận bình thường. Ðiều này cũng cho thấy bước đầu khả năng chẩn đoán các trường hợp hẹp động mạch thận trên 60% đường kính khá cao. Vì chỉ mới có 6 trường hợp hẹp được xác định trên siêu âm nên chưa đủ để bàn về ý nghĩa thống kê.

KẾT LUẬN

Mặc dầu số lượng nghiên cứu không nhiều, nhưng kết quả rất giống với kết quả của các tác giả nước ngoài khi báo cáo về hẹp động mạch thận, đặc biệt rất giống kết quả của hẹp động mạch cảnh, là nghiên cứu kinh điển đã được công bố rất nhiều(2,3,5,6,7). Siêu âm Doppler đánh giá hẹp động mạch thận không quá khó về mặt kỹ thuật, không gây sang chấn, rẻ tiền, máy siêu âm rất phổ biến; do đó siêu âm Doopler là phương tiện thích hợp cần được nghĩ tới trước tiên để phát hiện bất thường động mạch thận ở bệnh nhân tăng huyết áp có nghi ngờ do động mạch thận.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.        Fruechte D (1992): Normal doppler signatures of abdominal introduction to vascular U.S., Vascular Diagnosis with Ultrasound 23:335-366.

2.        Dauzat M. (1991). Les vaisseaux du rein. U.S. vasculaire diagnotique,11:438-491.

3.        Huston J. et al. (1993) : Carotid Artery Prospective blinded comparision of 2-D time of flight M.R. angiography with conventional angiography and duplex U.S. Radiology 186, 339.

4.        KUBATE R (1995). Aorta and its symmetrical branches,, Color duplex sonography, pp 126-128.

5.        PHILIPPE C. RENE, et al (1992). Evaluation of doppler U.S. after inhibition of angiotensin-converting enzyme with captopril.Kidney 42: 463-479

6.        SAARINEN O., SALMELA K. (1994): Doppler ultrasound in the diagnosis of renal transplant artery stenosis - value of resistive index. Radiologica: pp 586 - 589

7.        STROTZER M. (1994): noninvasive assessment of renal artery stenosis.Clin dign Ultrasound 26:77-92