BƯỚC TIẾN BỘ TRONG ÐIỀU TRỊ VIÊM GAN MẠN
DO SIÊU VI VIÊM GAN B

Trần Ngọc Bảo*

TÓM TẮT

Từ khi B. Blumberg phát hiện "kháng nguyên Úc châu" đến nay, những nghiên cứu trong 2 thập kỷ tiếp theo đã xác định rõ cấu trúc của siêu vi viêm gan B (HBV) làm cơ sở cho các nghiên cứu về diễn tiến, điều trị và triển khai thuốc chủng ngừa HBV. Việc theo dõi diễn tiến cấp và mạn tính của viêm gan do HBV dựa trên các chỉ dẫn nhiễm HBV như các cặp kháng nguyên - kháng thể HBs, Hbe; anti-HBc, HBV-DNA; các khảo sát mô bệnh học, khảo sát siêu âm. Các chỉ dẫn nhiễm HBV và các khảo sát nêu trên sẽ giúp xác định giai đoạn và mức độ tổn thương của gan, đặc biệt là trong giai đoạn mạn tính của viêm gan sẽ giúp các nhà lâm sàng chỉ định các phương thức điều trị thích hợp nhất để ngăn chặn diễn tiến đến xơ gan và ung thư gan nguyên phát.

Việc điều trị Viêm gan mạn (VGM) do HBV nhằm các mục tiêu (1) ức chế HBV sinh sản, (2) cải thiện bệnh lý ở gan và (3) triệt tiêu HBV. Các phương tiện điều trị VGM do HBV gồm các nhóm thuốc điều hòa miễn dịch như Corticosteroid và Thymosine; thuốc chống siêu vi (SV) và điều hòa miễn dịch như Interferon (IFN) và Interleukines; thuốc chống SV như Adenosine arabinoside, Acyclovir, Lamivudine,.. Cho đến nay, qua thực tế sử dụng, chỉ có IFN alpha được xác minh có hiệu quả trong điều trị VGM do HBV và được xem là thuốc tham khảo trong điều trị VGM do HBV. Nhưng trong vài năm sau này Lamivudine đã được nghiên cứu rộng rãi trên lâm sàng và cũng đã được chứng tỏ có hiệu quả trong điều trị VGM do HBV với các ưu điểm ít tác dụng phụ hơn, giá thành rẻ hơn và dễ sử dụng hơn mà hiệu quả tương đương với IFN. Ðó là một bước tiến bộ đáng kể trong điều trị VGM do HBV. Tuy nhiên, thuốc chủng ngừa HBV mà hiện nay đang được sử dụng đại trà ở nhiều nước trên thế giới, mới thực sự là một bước ngoặt trong việc đối phó với HBV

SUMMARY

AN ADVANCE IN THE TREATMENT OF HBV CHRONIC HEPATITIS

Tran Ngoc Bao * Y hoc TP. Ho Chi Minh 2000 * Vol. 4 * No. 2: 65 - 71

Since the discovery of  "Australia antigen" by B. Blumberg in 1964, the researches during the following 2 decades have identified the ultrastructure of HBV, on which based the studies of the evolution, therapy and development of the vaccine of HBV. The follow up of the evolution of HBV infection is based on the markers of HBV such as the antigens HBs, HBe; antibodies HBs, HBe, HBc; HBV-DNA; ultrasounds and histopathologic examination. These markers and examinations will help the identification of the period and the grade of hepatic lesions, specifically in chronic hepatitis, and permit the physicians to decide the appropriated therapy to prevent evolution to cirrhosis and hepato-cellular carcinoma. The aims of the treatment of HBV chronic hepatitis are (1) the inhibition of HBV replication, (2) amelioration of hepatic lesions and (3) eradication of HBV. There are many drugs for HBV chronic hepatitis such as the immunomodulators with Corticosteroids and Thymosin, the antiviral and immunomodulators with Interferons and Inteleukines, the antiviral whith Adenosine arabinoside, Acyclovir, Lamivudine... Until now, Interferons has been considered efficacious in the treatment of HBV chronic hepatitis. But in few recent years, lamivudine has been proved efficacious as IFN in treatment of HBV chronic hepatitis, with low cost and with fewer side effect. It’s an advance in the treatment of HBV chronic hepatitis. However, the vaccine of HBV, which is now largely used in many countries in the world, is the true arm against HBV infection.


ÐẶT VẤN ÐỀ

Viêm gan do siêu vi đã được biết từ thời Hippocrates qua các mô tả những trận dịch vàng da. Ðến thế kỷ 18, các nhà lâm sàng ghi nhận có 2 loại "viêm gan nhiễm" và "viêm gan huyết thanh". Nhưng siêu vi viêm gan B (HBV) chỉ thực sự được nhận dạng lần đầu vào năm 1964 khi B. Blumberg phát hiện "kháng nguyên Úc châu" mà về sau đã được xác định là HBsAg của HBV, tiếp theo là phát hiện các "hạt Dane" (1970) trong huyết thanh người bị nhiễm HBV mà sau này được xác minh là HBV. Những nghiên cứu trong 2 thập kỷ tiếp theo đã xác định rõ cấu trúc của HBV gồm 1 vỏ ngoài có tính kháng nguyên, đó là HBsAg và 1 bao nucleocapside cũng có tính kháng nguyên là HBcAg và chuỗi xoắn kép DNA và men DNA-polymerase.

Hiện nay trên thế giới ước tính có khoảng 300 - 400 triệu người bị nhiễm HBV được phân bố thành 3 khu vực: (1) khu vực có tỉ lệ nhiễm thấp < 2% dân số gồm các nước châu Ðại dương, Tây Âu, Bắc Âu, Bắc Mỹ, Trung Mỹ, (2) khu vực có tỉ lệ nhiễm vừa từ 2 - 7% gồm các nước Nam Mỹ, châu Âu còn lại, Nga, Trung Cận Ðông, Nam Á, Bắc Phi, và (3) khu vực có tỉ lệ nhiễm cao > 8% gồm Châu phi còn lại, Ðông -Nam Á, Trung quốc.

Vấn đề điều trị VGM do HBV, trước đây là điều trị triệu chứng và điều trị nâng đỡ. Từ những năm 1970 Interferon (IFN) đã chứng tỏ có hiệu quả phần nào trong điều trị VGM do HBV. Nhưng do có nhiều tác dụng phụ, giá thành cao nên IFN chưa đáp ứng được mong muốn của các nhà lâm sàng trong việc điều trị VGM do HBV. Vì vậy, từ giữa những năm 1990 các thuốc kháng siêu vi đã được thử nghiệm trong đó có Lamivudine mà các tổng kết nghiên cứu gần đây đã chứng tỏ được hiệu quả của Lamivudine trong điều trị VGM do HBV.

DIỄN TIẾN CỦA NHIỄM SV VIÊM GAN B (VGB)

Theo J. H. Hoofnagle, nhiễm HBV sẽ diễn tiến như sau: (1) 25% bị viên gan cấp trong số này 99% sẽ khỏi và 1% tử vong. (2) 65% nhiễm không triệu chứng lâm sàng và sẽ khỏi 100%. (3) 10% sẽ trở nên nhiễm mạn, trong số này, 70 - 90% là người lành mang siêu vi và 10 - 30% là VGM sẽ dẫn đến các biến chứng xơ gan và ung thư gan từ vài năm đến vài chục năm sau (sơ đồ 1).