ÐIỀU TRỊ VÀ SỐNG CÒN

Tất cả 6 trường hợp đều được cắt túi mật. Có 2 trường hợp được điều trị bổ sung sau cắt túi mật nội soi: 1 điều trị với hóa chất (5-FU), 1 vừa điều trị hóa chất 5-FU sau đó 3 tháng mổ lại để cắt 2 hạ phân thùy 4-5. Thời gian theo dõi từ 3 - 48 tháng:

-một trường hợp (Bệnh nhân số 2) có u pT3 với giải phẫu bệnh lý là Carcinoma tuyến biệt hóa kém xâm nhập quá lớp thanh mạc. Bệnh nhân tử vong sau mổ 3 tháng do di căn các vết chọc trocar (vùng thượng vị và hạ sườn phải nơi đặt ống dẫn lưu dưới gan) và di căn gan. Ðiều đáng ghi nhận là túi mật bệnh nhân được bỏ vào trong bao khi mang ra khỏi ổ bụng, và không thấy có di căn lỗ trocar vùng rốn

-một trường hợp (Bệnh nhân số 5) mổ lại sau 3 tháng cắt gan hạ phân thùy 4-5 ghi nhận chưa thấy di căn.

-một trường hợp (Bệnh nhân số 1) có u pT2 với giải phẫu bệnh lý là Carcinoma tuyến biệt hóa vừa xâm nhập đến lớp cơ, chưa xâm nhập lớp thanh mạc. Khi mổ bệnh nhân được chẩn đoán là viêm túi mật cấp do đó túi mật được bỏ vào trong bao mang ra ngoài qua vết rạch dưới rốn. Theo dõi đến 48 tháng bệnh nhân còn khỏe mạnh chưa thấy di căn

-3 trường hợp còn lại (Bệnh nhân số 3,4,6) chưa rõ kết quả

Chúng tôi xin ghi lại sau đây 3 bệnh án tiêu biểu:

Bệnh án số 1

Bệnh nhân nữ 45 tuổi, đau thượng vị 2 năm, ăn khó tiêu, 1 tháng trước nhập viện đau nhiều về đêm. Chức năng gan bình thường (Bilirubin 0,6mg/dl; SGOT 19U/L; SGPT 18U/L; Alkaline phosphatase 224UI/L). Siêu âm 2 lần thấy túi mật căng d=10x4x4cm, thành dày 4,5cm, có phản âm kém trong thành, lòng có 2 sỏi, 1 sỏi kẹt cổ d=28mm, 1 sỏi ở đáy 14mm. Mổ nội soi ngày 22-12-95, quan sát thấy túi mật căng, có dấu hiệu viêm cấp với vách dày và mạc nối lớn dính vào đáy và phễu túi mật. Gỡ mạc nối lớn, thấy túi mật thành dày, cầm nắm túi mật bằng dụng cụ phẫu tích khá khó khăn và chảy dịch đục như mủ khi cầm nắm. Ống túi mật và động mạch túi mật lần lượt được cột với các nơ chỉ Vicryl 1-0 và cắt rời. Phẫu tích túi mật khỏi gan với kéo đốt điện. Kiểm tra cầm máu giường túi mật thấy khô nên không đặt ống dẫn lưu dưới gan. Túi mật được cho vào một bao cao su (condom) và mang rà qua vết rạch trocar 1 cm dưới rốn để tránh nhiễm trùng vết mổ. Chẩn đoán sau mổ là Viêm túi mật cấp do sỏi. Bệnh nhân hồi phuïc tốt sau mổ, xuất viện sau mổ 5 ngày. Chẩn đoán giải phẫu bệnh lý là carcinom tuyến biệt hóa kém xâm nhập đến lớp cơ trơn nhưng chưa vượt quá lớp thanh mạc (pT2NxM0).

Bệnh nhân được theo dõi định kỳ mỗi 3 tháng trong vòng năm đầu, sau đó mỗi 6 tháng trong các năm tiếp theo. Thời gian theo dõi đến nay là 48 tháng, CT-scan và siêu âm chưa thấy có dấu hiệu di căn, bệnh nhân vẫn lao động sinh hoạt bình thường.

Bệnh án số 2

Bệnh nhân nam 69 tuổi, đau thượng vị và hạ sườn phải từ hơn một năm, không nóng sốt; được chẩn đoán là viêm dạ dày, điều trị không hết hẳn. Cách 3 tháng trước nhập viện bệnh nhân được siêu âm, chẩn đoán là sỏi túi mật. Trên siêu âm, vách túi mật dày 5-6mm, trong lòng chứa 3 sỏi d=1,5cm. Mổ nội soi ngày 1-8-96, thấy túi mật viêm, thành dày 5-6mm, dính rất nhiều với mạc nối lớn. Cầm nắm túi mật bằng dụng cụ rất khó khăn và dễ chảy máu. Gỡ dính, chọc hút túi mật ra 30ml dịch mủ xanh lợn cợn. Cột ống túi mật với 3 mối chỉ Vicryl 1-0 và động mạch túi mật với 1 mối chỉ Vicryl 1-0. Lần lượt cắt ống túi mật và động mạch túi mật. Phẫu tích túi mật khỏi gan với kéo đốt điện khá khó khăn vì thành túi mật dày và dính rất chắc với mặt dưới gan, nghĩ là do quá trình viêm cấp của túi mật. Ðặt một dẫn lưu dưới gan. Cho túi mật vào trong một condom, mang rà qua vết rạch trocar dưới rốn. Xẻ túi mật thấy niêm mạc túi mật hoại tử đen, trong lòng chứa 3 hòn sỏi đen kích thước từ 1-1,5cm và dịch mủ lợn cợn. Diễn biến hậu phẫu tương đối bình thường, ống dẫn lưu ra dịch hồng và được rút vào ngày thứ 3. Bệnh nhân xuất viện sau mổ 5 ngày. Kết quả giải phẫu bệnh lý là carcinom tuyến, biệt hóa vừa xâm nhập vào lớp cơ và lớp thanh mạc (pT3NxMx).

Bệnh nhân tái khám 10 tuần sau mổ với tình trạng nhiễm cứng vết mổ trocar ở thượng vị và hạ sườn phải nơi đặt ống dẫn lưu dưới gan. Siêu âm phát hiện có di căn gan và có dịch ổ bụng. Bệnh nhân tử vong 3 tháng sau mổ trong bệnh cảnh suy gan và di căn ổ bụng.

Bệnh án số 5

Bệnh nhân nữ 72 tuổi, nhập viện vì đau thắt lưng phải. Siêu âm phát hiện sỏi niệu quản phải d=17mm ở 1/3 trên, thận phải trướng nước độ 3; túi mật có nhiều sỏi đk£ 16mm, vách không dày. Bệnh nhân yêu cầu được giải quyết cả sỏi niệu quản lẫn sỏi túi mật. Ngày 14-8-99 bệnh nhân được mổ nội soi cắt túi mật và mở niệu quản phải lấy sỏi. Trong khi mổ nội soi, ghi nhận gan trơn láng, túi mật viêm dính từ cổ đến đáy túi mật, gỡ dính dễ dàng. Bộc lộ ống túi mật,, kẹp ống túi mật 2 clip, kẹp động mạch túi mật bằng 1 clip. Cắt rời túi mật khỏi gan, đốt cầm máu giường túi mật. Lấy túi mật rà qua ngã rốn. Túi mật có nhiều sỏi từ 3-15mm. Chẩn đoán sau mổ là viêm túi mật mạn tính do sỏi. Kết quả giải phẫu bệnh lý: carcinom tuyến biệt hóa rõ xâm nhập đến lớp cơ túi mật (pT2NxMx)

Sau mổ bệnh nhân được điều trị 2 đợt hóa chất với 5-FU, mỗi đợt 2,5g/5 ngày. Ngày 9-11-99 (3 tháng sau mổ lần đầu), bệnh nhân được mổ lại, lúc đó không phát hiện gì lạ trên khám lâm sàng, siêu âm kiểm tra không thấy di căn gan, không báng bụng, không hạch ổ bụng. Mở bụng theo đường rạch dưới bờ sườn phải, bụng sạch, không thấy hạch bạch huyết vùng rốn gan và quanh ống mật chủ. Ðại tràng và tá tràng dính ít vào giường túi mật, gỡ dính dễ dàng. Sờ vùng gan trên giường túi mật cảm giác có một nhân hơi cứng. Cắt gan không điển hình phần gan tương ứng giường túi mật. Cầm máu tốt. Dẫn lưu dưới gan. Ðóng bụng. Ống dẫn lưu được rút sau mổ 3 ngày, diễn biến hậu phẫu tương đối bình thường, mặc dù siêu âm sau mổ ghi nhận có tràn dịch màng phổi phải lượng ít. Bệnh nhân xuất viện sau mổ 9 ngày. Kết quả giải phẫu bệnh lý: Viêm gan mạn tính không đặc hiệu, không thấy tế bào ác tính.

HÌNH ẢNH GIẢI PHẪU BỆNH