Tạ
Long (1), Nguyễn Khánh Trạch (2), Trần Ngọc
Bảo(3), Ðỗ Trọng Hải (4), Nguyễn Thị Ánh
Nguyệt (5),
Lê Thị Thúy Châu (6), Nguyễn Thị Ánh Tuyết(7) và
cộng sự
Khoa Tiêu hóa -Viện 108 -Ủy viên thường vụ Hội Khoa Học Tiêu Hóa Việt Nam
Khoa tiêu hóa Bệnh Viện Bạch Mai - Phó chủ tịch Hội Khoa Học Tiêu Hóa Việt Nam
: Bộ Môn Nội Trường Ðại Học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh
Khoa tiêu hóa -Phòng khám Trường Ðại Học Y Dược Tp Hồ Chí Minh
Khoa nội tiêu hóa L8B3 Bệnh viện Chợ Rẫy
Khoa nội B - Bệnh viện Nhân Dân Gia Ðịnh
Bệnh viện C- Ðà NẵngTÓM TẮT
Mục tiêu của nghiên cứu này là để khẳng định hiệu quả của Macrogol 4000 cũng như liều lượng và thời gian điều trị tối ưu trên quần thể người Việt Nam.101 bệnh nhân bị táo bón chức năng đã được phân tích trong nghiên cứu này. Ðây là một nghiên cứu mở, không mang tính chất so sánh và được thực hiện ở nhiều trung tâm. Thời gian nghiên cứu là 14 ngày và có thể kéo dài đến 28 ngày trong trường hợp không có sự cải thiện. Liều lượng của Macrogol 4000 là 2 gói/ngày trong 2 ngày đầu (10g macrogol mỗi gói) với sự thích ứng tùy theo các kết quả lâm sàng (0, 1 hoặc 2 gói/ngày). Ở mỗi kỳ thăm khám (N7, N14, N28) sẽ có sự lượng giá về hiệu quả, về sự dung nạp và về sự tuân thủ theo phác đồ. Hiệu quả của Macrogol 4000 đã được biểu hiện bằng phân mềm đi một một cách đáng kể (P< 0,001), bằng sự gia tăng có ý nghĩa số lần đi cầu/tuần từ N0 đến N14 (P = 0,026) và từ N0 đến N28 (P = 0,046) và bằng một sự cải thiện đáng kể ở N7, N14, và N28 của các triệu chứng khác nhau đi kèm với sự táo bón: chướng bụng, đau bụng, sình hơi, đau khi sờ khám. Ðo bằng Thang Ðiểm Nhìn (VAS) trên sự táo bón đã cho thấy có một sự cải thiện quan trọng và có ý nghĩa (P = 0,0001) giữa N0 và N14 cũng như giữa N0 và N28. Và, dù là cảm giác chung hay sự đánh giá lâm sàng, hoạt động của sản phẩm được đánh giá là "tốt" hoặc "rất tốt" trong ít nhất 87% các trường hợp. Có ít nhất 99% các bệnh nhân đã làm đúng theo yêu cầu của việc điều trị. Sự chấp thuận hoàn toàn việc điều trị và sự đánh giá về hương vị được cho là "tốt" hoặc "rất tốt" bởi từ 80% đến 90% và từ 70% đến 80% các bệnh nhân. Ðể kết thúc, việc điều trị bằng Macrogol 4000 đã được dung nạp rất tốt ở hầu hết các trường hợp, bất kể thời gian điều trị.
EFFICACY OF
MACROGOL 4000 IN THE PATIENTS SUFFERING
FROM THE CHRONIC FUNCTIONAL CONSTIPATION
Ta Long, Nguyen Khanh Trach, Tran Ngoc Bao, Do Trong Hai, Nguyen Thi Anh Nguyet, Le Thi Thuy Chau, Nguyen Thi Anh Tuyet et al..* Y hoc TP. Ho Chi Minh 2000 * Vol. 4 * N0 1: 30-36
The objective of this trial is to reconfirm the efficacy of Forlax® as well as its dosage and its duration of the optimal treatments in Vietnamese population. One hundred and one patients suffering from the functional constipation have been considered in the analysis of this open multicenter trial
The duration of this study was 14 days and able to last to 28 days in case of non-improvement. The dosage of Macrogol 4000 was 2 sachets/ day in the two first days (20g of Macrogol 4000) with the adaptation according to the clinic results (0, 1 or 2 sachets/day). An assessment of efficacy, the tolerance and compliance were done át every visit (D7, D14, D28). The efficacy of Macrogol 4000 has been translated by the significant softening of the stool (p < 0,001), a significant increase of stools number/week from D0 to D14 (p = 0,0026) and from D0 to D28 (p = 0,046) and by a significant improvement of the different symptoms associated át D7, D14 and D28 : flatulence, abdominal pain, meteorism, pain át the palpation.Measures of the VAS (visual analogue scale) of constipation have shown an important significant improvement (p = 0,0001) between D0 and D14 as good as that between D0 and D28. And concerning the global sensation and the clinic appreciation, the activity of the product is assessed "good" or "very good" in át least 87% of the cases. The compliance of treatment was minimum of 99%. The global acceptability of the treatment and the appreciation of taste have been assessed "good" or "very good" respectively 80% to 90% and 70% to 80% of patients. To finish, the treatment by Macrogol 4000 has been tolerated well in most of the cases regardless the duration of treatment.
GIỚI THIỆU
Trong số nhiều phương pháp điều trị có thể sử dụng cho tình trạng táo bón chức năng, Macrogol 4000 là một thuốc nhuận tràng thẩm thấu thế hệ mới - Hoạt chất chính: Macrogol 4000 (Polyéthylène glycol 4000) - mà hiệu quả và sự dung nạp rất tốt đã được chứng minh bởi nhiều nghiên cứu của Châu Âu(1,2,3).
Nhưng nếu tình trạng táo bón chức năng là một bệnh lý có thể gặp trên toàn thế giới, thì những niềm tin và tập quán có liên quan đến táo bón cũng như các yếu tố thuận lợi đưa đến tình trạng táo bón có khác nhau giữa các quốc gia.
Do đó, mục tiêu của nghiên cứu này là khẳng định sự hiệu quả của Macrogol 4000 cũng như liều lượng và thời gian điều trị tối ưu trong một quần thể người khác với người ở Châu Âu: đó là Việt Nam.
Về phương pháp, đây là một nghiên cứu mở, không so sánh
và được tiến hành ở nhiều trung tâm.
Ðể được chọn vào nghiên cứu, các bệnh nhân, nam hoặc nữ phải có ít nhất là 18 tuổi và bị táo bón chức năng. Táo bón chức năng được định nghĩa bằng tình trạng đi cầu dưới 3 lần/tuần từ ít nhất là 1 tháng, không được điều trị với thuốc nhuận tràng.
Việc chọn bệnh được tiến hành ở Việt Nam, từ 16/06/98 đến 12/09/98.
Những bệnh nhân sau đây sẽ không được chọn vào nghiên cứu:
đã điều trị bằng thuốc nhuận tràng dưới 1 tuần
đã được điều trị bằng thuốc nhuận tràng có chứa Macrogol trong vòng 3 tháng trước khi đưa vào nghiên cứu
có một bệnh lý viêm đại tràng (viêm đại trực tràng xuất huyết, bệnh Crohn), hội chứng tắc ruột hoặc bán tắc ruột, đau bụng không rõ nguyên nhân.
tình trạng sức khỏe suy sụp nặng.
không hợp tác, không hiểu được sơ đồ nghiên cứu và có nguy cơ không trở lại tái khám để theo dõi.
105 bệnh nhân đã được chọn vào nghiên cứu. Việc phân tích đã được tiến hành trên 101 bệnh nhân. Tuổi trung bình của các bệnh nhân trong nghiên cứu là 45,5±18,3 tuổi (tuổi trung vị: 42,5) và 78,8% bệnh nhân là nữ, 31% không có nghề nghiệp.
Thời gian của tình trạng táo bón kéo dài trước khi đưa vào nghiên cứu (n =101) trung bình là 38,4 ± 48,9 tháng (trung vị: 24 tháng, tối thiểu: 1 tháng, tối đa: 360 tháng).
Số lần đi cầu mỗi tuần là 2 cho 60,4% các bệnh nhân. 96% các bệnh nhân có phân rắn, 73,3% có cảm giác chưa cho phân ra hết, 94,1% cần rặn kéo dài. Việc phân tích các tập quán ăn uống đã được thực hiện trên 98 bệnh nhân có thể cung cấp được những thông tin này đã cho thấy rằng 73,5% có chế độ ăn giàu chất xơ và 72,4% đã uống nhiều nước.
Lúc được chọn vào nghiên cứu, có 26,7% (27/101) các bệnh nhân đã được điều trị táo bón trước đó. Trong số này có 39,3% (11/27) được điều trị với một thuốc nhuận tràng thẩm thấu và 21,4% (6/27) với một tác nhân gây kích thích.
Có 35,6% (36/101) bệnh nhân đã được điều trị một bệnh lý khác với táo bón trước khi được chọn vào nghiên cứu. Trong số này, có 86,1% (31/36) tiếp tục ít nhất là một phương pháp điều trị khác song song với nghiên cứu này.
Ðúng theo luật hiện hành, mỗi bệnh nhân sẽ viết rõ ràng sự chấp thuận hợp tác với nhóm nghiên cứu ra giấy.