Chán ăn tâm lý

Tiêu chuẩn chẩn đoán

Dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán của Hiệp hội tâm thần Hoa Kỳ:

- Rất sợ mập

- Rối loạn thể trọng cơ thể: mất trên 25% trọng lượng lúc đầu.

- Từ chối tái lập cân nặng ở mức tối thiểu tương ứng với tuổi và chiều cao.

- Không có bệnh lý thực thể giải thích tình trạng sụt cân.

- Không muốn cải thiện hình dạng cơ thể bằng các loại thực phẩm bất chấp cảm giác đói, được khuyên nhủ, giải thích hay thậm chí đe dọa.

Nguyên nhân

Thường không có một nguyên nhân nào rõ ràng. Yếu tố gia đình xã hội dường như được đặt nặng đối với các thiếu nữ được cha mẹ chăm sóc quá mức và bị áp đặt ý muốn của phụ huynh. Ða số là các trẻ em ngoan, thông minh, học giỏi nhưng luôn luôn bị ép vào khuôn khổ giáo dục cứng nhắc, ít bè bạn và giao tiếp với môi trường xung quanh. Bệnh nhân dần dần sẽ có biểu hiện trầm cảm và hoang tưởng tự sát. Mặt khác chán ăn tâm lý cũng có thể xuất hiện ở các thiếu nữ chọn nghề nghiệp cần một thể trọng nhẹ hay một vóc dáng mảnh mai: vũ công, vận động viên thể dục dụng cụ, nghệ sĩ hay các siêu người mẫu thuộc trường phái gầy (Kate Moss). Ở các đối tượng này luôn có một sự ý thức trong việc từ chối ăn uống mặc dù hiểu rất rõ và luôn được cảnh giác về tình trạng sức khỏe. Trầm trọng hơn, bệnh nhân còn sử dụng các loại thuốc nhuận trường và/ hoặc lợi tiểu, tự gây nôn nhằm mục đích làm giảm cân nhanh chóng tạo nên hội chứng cơ thể trống rỗng. Các xung đột gia đình, tình trạng hôn nhân của cha mẹ, chấn thương tâm lý, thay đổi đột ngột về đời sống xã hội, môi trường làm việc, ..., cũng thường được ghi nhận trong tiền căn.

Biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng và diễn tiến bệnh

Bệnh nhân thường sụt cân nhanh từ 15 - 45% trọng lượng tối thiểu, teo mô mỡ dưới da, da khô, đầu chi lạnh và tím, vàng da do tăng sắc tố caroten máu, chậm phát triển các đặc điểm giới tính, ngực không phát triển tuy nhiên có thể có lông giới tính. Phì đại tuyến mang tai và tuyến dưới hàm, bất thường về răng và đặc biệt các vết trầy ở mu bàn tay do tự gây nôn ói. Nhịp tim chậm và hạ huyết áp tư thế cũng hay gặp và cải thiện với chế độ ăn. Rối loạn giấc ngủ như trên các bệnh nhân trầm cảm. Thân nhiệt thấp có thể dưới 350c. Về sinh dục, rối loạn chức năng trục hạ đồi- tuyến yên- buồng trứng có thể gây vô kinh thứ phát do giảm nhịp điệu tiết GRH. Phù ngoại biên cũng có thể xuất hiện do hội chứng tăng tiết ADH không thích hợp. Táo bón do giảm nhu động ruột là hậu quả của việc lạm dụng thuốc nhuận trường. Rối loạn nước-điện giải là cận lâm sàng quan trọng nhất có thể do uống quá nhiều nước để có cảm giác no, dùng thuốc lợi tiểu và/ hay thuốc nhuận trường. Hạ kali máu là biến chứng nguy hiểm có thể gây tử vong. Nồng độ TSH bình thường, T3 và T4 tự do thấp trong khi rT­3 tăng phản ảnh tình trạng giảm chuyển hóa cơ thể. Cortisol máu tăng. Ðường huyết thường thấp và bệnh nhân có khuynh hướng hạ đường huyết không triệu chứng. Thiểu sản tủy xương với thiếu máu, giảm bạch cầu và tiểu cầu tuy nhiên hệ thống miễn dịch vẫn bình thường. Mất chất xương với gãy xương chèn ép và gù cũng được ghi nhận do thiếu estrogen, thiếu vitamin và các yếu tố vi lượng, tăng cortisol máu và tác dụng ức chế tạo xương và nguyên bào xương do dinh dưỡng kém. 50% bệnh nhân nữ chán ăn tâm thần có mật độ xương nhỏ hơn -2 độ lệch chuẩn ( <-2 SD) và tình trạng thiếu xương này vẫn tiếp tục ngay cả khi cân nặng được tái lập do đó bệnh nhân luôn được xếp vào nhóm nguy cơ loãng xương sớm.

Diễn tiến bệnh thường kéo dài với nhiều đợt tái phát. Tỷ lệ tử vong có thể dao động từ 7- 10% thậm chí đến 20% tùy theo báo cáo trong đó các đợt trầm cảm với hành vi tự sát. 40% chuyển sang dạng mạn tính với các đợt cân nặng trở lại bình thường xen kẽ với các đợt nhập viện dài ngày. 30% sẽ có khó khăn trong đời sống tình dục, loãng xương sớm. 17- 77% có thể khỏi hoàn toàn theo tiêu chuẩn:

-     Tăng cân nặng lại

-     Xuất hiện kinh nguyệt 6- 12 tháng sau khi tăng cân.

-     Có cuộc sống xã hội và tình dục bình thường.

-     Thái độ hành xử ăn uống trở lại bình thường.

-     Các yếu tố tiên lượng tốt:

 + Khởi bệnh đột ngột.

 + Có sang chấn tâm lý rõ ràng

 + Ðáp ứng với môi trường mới.

 + Thuộc tầng lớp trí thức và lập gia đình ngay sau khi khỏi bệnh.

Ăn nhiều tâm lý

Chứng ăn nhiều tâm lý có thể có nhiều biểu hiện mà việc phân biệt thường không phải bao giờ cũng dễ dàng; bao gồm ăn vặt, ăn nhiều do cảm giác đói cồn cào, chứng ăn vô độ và chứng mất cảm giác no. Ðặc điểm lâm sàng của các thể bệnh này có thể được tóm tắt như sau:

Ăn vặt

Là bất thường về hành vi ăn uống hay gặp nhất và ở dạng nhẹ. Chủ yếu hay gặp ở các trẻ em được nuông chiều. Ðặc trưng bởi ý thích ăn thêm giữa các bữa ăn chính với thực phẩm được ưa chuộng là các loại thức ăn ngọt (bánh biscuit, chocolat, nước ngọt có gaz,...)

Ăn nhiều do cảm giác đói cồn cào (NES)

Thường xảy ra vào thời điểm cuối ngày sau khi làm việc và thói quen này thường lặp lại vào một giờ nhất định. Lần đầu tiên được mô tả năm 1955 và có tính chất chu kỳ: chán ăn buổi sáng- ăn nhiều vào chiều tối- mất ngủ về đêm. Kuldau và Rand trong báo cáo đã được xuất bản ghi nhận tỷ lệ NES là 15% các bệnh nhân béo phì và 0,4% người có cân nặng bình thường. Schenk và Mahowald là các nhà nghiên cứu giấc ngủ đã gọi NES dưới một tên khác "các rối loạn ăn uống liên quan đến giấc ngủ ban đêm" (NSRED) trong đó bệnh nhân bất chợt thức giấc về đêm và không thể ngủ lại nếu không ăn hay uống một thứ gì, thường kèm theo chứng mộng du và rối loạn giấc ngủ.

Mất cảm giác no

Là một chẩn đoán loại trừ, do tổn thương não: tình trạng tâm thần, chấn thương sọ não với các sang thương trung ương, vỡ phình mạch hay u não. Ðặc trưng bởi sự biến mất cảm giác no sau khi ăn làm bệnh nhân ăn uống liên tục và có thể dẫn đến chứng xung động trộm cắp để thỏa mãn nhu cầu ăn uống.

Chứng ăn vô độ tâm lý

Là rối loạn chủ yếu trong thái độ hành xử về ăn uống hay gặp ở nữ độ tuổi từ 16- 25, có thể theo sau chán ăn tâm lý. Tiêu chuẩn chẩn đoán được APA đề ra như sau:

Có các giai đoạn ăn vô độ lặp đi lặp lại (quá nhiều thức ăn trong một thời gian ngắn thường dưới 2 giờ).

Có ít nhất 1 trong 3 triệu chứng sau:

(1) Trong lúc ăn vô độ, bệnh nhân thường tiêu thụ một lượng lớn thức ăn có năng lượng cao dễ hấp thu và ăn vụng trộm.

(2) Ăn bất kỳ loại thực phẩm gì khi lên cơn thèm ăn.

(3) Chỉ ngưng khi đau bụng, buồn ngủ, do công việc hay tự gây nôn.

(4) Cố gắng thử làm giảm cân bằng tiết chế nghiêm nhặt, gây nôn, lạm dụng thuốc lợi tiểu hay nhuận trường.

(5) Thay đổi cân nặng trên 5 kg.

Nhận thức được hành vi ăn uống đã thay đổi và không kiểm soát được chế độ ăn.

Bị ức chế và mặc cảm tội lỗi với ý nghĩ tự trừng phạt sau các cơn ăn nhiều.

Các giai đoạn ăn nhiều không xảy ra trong một bệnh cảnh thực thể hay sau chán ăn tâm lý.

Nguyên nhân được nêu lên chủ yếu vẫn là các nguyên nhân thuộc về yếu tố tâm lý bao gồm các khó khăn và bế tắc trong cuộc sống. Bệnh nhân thường có triệu chứng trầm cảm, nghiện rượu, đã ly dị hay tan vỡ trong hôn nhân với các khoảng trống trong cuộc đời cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Hầu như đa số có thừa cân hay béo phì và rất nhạy cảm với cân nặng của mình. Tuy nhiên vẫn có một tỷ lệ bệnh nhân mắc chứng ăn vô độ tâm lý có cân nặng bình thường do thường xuyên tự gây nôn hay sử dụng các loại thuốc nhuận trường. Thiểu kinh hay vô kinh cũng có thể gặp trong nhóm bệnh nhân này. Viêm thực quản là tai biến chính khi bệnh nhân tự gây nôn (bằng tay, bàn chải đánh răng...). Bệnh nhân cũng thường có những cơn ngưng thở trong khi ngủ (SAS). Hội chứng Pickwick cũng là biểu hiện lâm sàng chung cho các bệnh nhân béo phì và có tiên lượng xấu vì dễ gây đột tử về đêm.

Các tác giả thuộc trường phái Anh- Mỹ lại đưa ra một một dạng khác của chứng ăn vô độ tâm lý: rối loạn do ăn vô độ (BED). Khác với chứng ăn nhiều tâm lý, các bệnh nhân BED không có hành vi tự gây nôn hay sử dụng các loại lợi tiểu và/ hoặc thuốc nhuận trường để làm giảm cân và do đó luôn bị thừa cân hay béo phì. BED chiếm khoảng 19,6% trong một nghiên cứu trên 102 bệnh nhân béo phì và rối loạn hành vi ăn uống tại khoa Tâm lý- Ðại học Y khoa Pennsylvania. 30% bệnh nhân BED có kèm theo NES và 43% bệnh nhân NES có kèm theo BED. Tiêu chuẩn chẩn đoán BED có hơi khác hơn tiêu chuẩn chẩn đoán ăn vô độ tâm lý:

Có các giai đoạn ăn vô độ lặp đi lặp lại đặc trưng bởi:

1)      Ăn vào một lượng lớn thức ăn trong một khoảng thời gian ngắn mà người bình thường không thể ăn nhiều và nhanh như vậy.

2)      Mất khả năng kiểm soát ăn uống (không thể ngưng ăn hay kiểm soát đã ăn bao nhiêu).

* Ít nhất có 3 trong các chỉ điểm sau đây:

1)      Ăn nhanh hơn bình thường rất nhiều

2)      Ăn cho đến khi có cảm giác khó chịu vì quá no.

3)      Ăn một lượng lớn thức ăn ngay cả khi không có cảm giác đói sinh lý.

4)      Ăn một mình

5)      Mặc cảm tội lỗi với bản thân, bị ức chế, xấu hổ sau khi đã ăn quá nhiều.

-       Ăn vô độ gây khó chịu đáng kể.

-       Ăn vô độ xảy ra ít nhất 2 ngày một tuần trong vòng 6 tháng.

-       Không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán chán ăn tâm lý hay ăn nhiều tâm lý.