Tiêm insulin có thể vừa gây cảm giác đói hay ngược lại ức chế cảm giác thèm ăn tùy thuộc vào liều và đường sử dụng. Tiêm insulin để làm giảm lượng glucoz máu hoặc chẹn các receptor insulin ở gan bằng các kháng thể kháng thụ thể insulin sẽ tăng cảm giác thèm ăn nhưng ngược lại truyền insulin với liều nhỏ kéo dài hay truyền trực tiếp vào hệ thống não thất sẽ làm giảm cảm giác đói qua cơ chế làm giảm sản xuất neuropeptid Y ở nhân cung đối thị.
NPY được tổng hợp ở nhân cung đồi thị và hoạt động ở nhân cạnh não thất của đồi thị. NPY là hormon có tiềm lực gây cảm giác đói của hệ thần kinh trung ương. NPY cũng ảnh hưởng đến hệ thần kinh giao cảm qua trung gian các receptor b2 và b3 adrenergic. Trên thực nghiệm ở chuột, NPY làm tăng trưởng nồng độ corticosteron và insulin huyết thanh, tăng khả năng thủy phân chất béo ở mô mỡ và mô gan, tăng khả năng nhận glucoz ở các mô mỡ ngoại biên cũng như tăng cường hoạt tính của lypoprotéin lipaz. Các phản ứng này sẽ làm tăng cảm giác thèm ăn do đó NPY còn được xem như hormon "kích thích dinh dưỡng" đối ngược với leptin, một hormon mới được phát hiện gần đây, được xem như "ức chế dinh dưỡng". Leptin được sản xuất duy nhất từ mô mỡ trắng, ảnh hưởng đến hệ thần kinh giao cảm đối kháng với NPY, kích thích b2 và b3 adrenergic giảm cảm giác thèm ăn. Trên mô hình thực nghiệm ở chuột, leptin làm giảm nồng độ NPY ở đồi thị và được xem như hormon chủ yếu trong cơ chế feedback âm tính của hệ thống NPY - leptin. Hiệu quả của leptin bị ức chế bởi glucocorticoid và tăng lên trên chuột đã bị cắt bỏ tuyến thượng thận. Trên các bệnh nhân chán ăn tâm lý, nồng độ leptin giảm đi có liên quan đến tình trạng giảm khôi lượng mỡ.
Các mineralocorticoid hầu như không có vai trò trong cơ chế điều hòa ăn uống do não không có các enzym chuyển hóa hormon này; ngược lại glucocorticoid lại có vai trò trong việc điều hòa dinh dưỡng và dự trữ mỡ của cơ thể. Nồng độ cao glucocorticoid sẽ gây cảm giác thèm ăn và kích thích sự ngon miệng, trong khi thiếu hụt corticoid sẽ gây cảm giác chán ăn thậm chí buồn nôn hay ói mửa.
Ðược chia làm 3 nhóm chính:
* Các chất trung gian dẫn truyền thần kinh tác dụng nhanh gồm có duy nhất GABA (g- aminobutiric acid) là chất dẫn truyền thần kinh có khả năng làm giảm hay tăng cảm giác thèm ăn tùy thuộc vào vị trí tác dụng
* Các chất trung gian dẫn truyền thần kinh tác dụng chậm; thường qua một hệ thống tín hiệu thứ hai gồm có norepinepherine, serotonin, dopamine và histamine.
* Serotonin gây thèm ăn qua trung gian thụ thể serotonin - 1A (5 hydroxy tryptamine - 1A - 5 HT1A); tuy nhiên khi qua trung gian 5 HT1B/D hay 5 HT2c sẽ giảm cảm giác thèm ăn. Norepinephrine làm giảm cảm giác thèm ăn qua trung gian receptor b2 adrenergic ở đồi thị hoặc tăng cảm giác đói qua trung gian receptor a2 - adrenergic ở nhân cạnh não thất hay nhân bụng giữa. Dopamine làm tăng cảm giác thèm ăn qua tác dụng chủ yếu gây ngon miệng. Histamine làm giảm cảm giác thèm ăn qua trung gian hoạt hóa receptor H1 ở nhân bụng giữa đồi thị.
Ngoài ra còn một số peptide tác dụng chậm có thể ảnh hưởng đến cảm giác thèm ăn (bảng 1 và 2)
Bảng 1: Các hormon ảnh hưởng đến cảm giác no và đói
|
Tăng
cảm giác thèm ăn |
Giảm
cảm giác thèm ăn |
|
Dynorphin b - endorphin Galanin GHRH NPY Somatostatin |
Anorectin Bombesin Calcitonin Cholecystokinin CRH Enterostatin Glucagon Insulin Neurotesin Oxytocin TRH Vasopressin |
Bảng 2: Các peptid ảnh hưởng đến cảm giác thèm ăn đặc hiệu
|
Chất
dinh dưỡng |
Tăng |
Giảm |
|
Chất béo |
Galanin |
Serotonin Enterostatin |
|
Hydratcarbon |
Norepinephrine NPY |
Cholecystokinin |
|
Protein |
GHRH |
Glucagon |
|
Sodium chloride |
Angiotensin |
|
Cả hai hội chứng đều đặc trưng bởi lối hành xử bất thường về ăn uống đưa đến các rối loạn về thể trọng và các biểu hiện bệnh lý ở các cơ quan khác. Tần suất ngày càng tăng trong thập kỷ vừa qua; chiếm 1% các thiếu nữ ở độ tuổi 16- 18 ở Anh quốc. Hai đỉnh cao nhất về tần suất mắc bệnh là 14,5 và 18 tuổi. Ở Hoa kỳ, tần suất mắc bệnh chung cho cả 2 hội chứng là 3% phụ nữ trẻ và có khoảng 13% nữ sinh viên đại học ít nhiều có biểu hiện rối loạn hành vi và nhận thức về ăn uống. Mặc dù được ghi nhận là hay gặp ở nhóm người trẻ tuổi, các rối loạn về ăn uống cũng có thể gặp ở lứa tuổi sau 40 và ngay cả ở trẻ em. Tỷ lệ nữ / nam thay đổi tùy theo báo cáo từ 5 - 10 /1 đến 20 - 25/1; tuy vậy có từ 5 - 10% trường hợp chán ăn tâm lý và ăn nhiều tâm lý xảy ra ở thiếu niên và nam giới trưởng thành. Các rối loạn ăn uống thường gặp ở các nước công nghiệp hóa cao hơn là các nước chưa công nghiệp hóa. Ngay tại các quốc gia phát triển, bệnh cũng có tỷ lệ cao trong các tầng lớp thượng lưu và trung lưu so với các tầng lớp dưới. Có nhiều yếu tố góp phần trong cơ chế bệnh sinh bao gồm di truyền, hóa thần kinh, tâm lý và các yếu tố văn hóa xã hội.