Khi mà khối u là lành tính, hoặc được phát hiện khi chưa có di căn, thì phẫu thuật cắt bỏ khối u là phương pháp chữa khỏi duy nhất đối với các khối u nội tiết tụy. Ngoại trừ trường hợp đa u nội tiết, do đồng thời, hoặc trong quá trình tiến triển sau này, có các khối u khác phát triển ở phần tụy còn lại. Trong trường hợp này cắt bỏ khối u tụy tuy nhiên cũng hợp lý khi khối u đe dọa đến các cấu trúc quanh tụy (thí dụ tĩnh mạch lách),hoặc khi nó gây ra một hội chứng đa tiết hormon mà thuốc không kiểm soát nổi.
Nói chung cần phải bằng mọi cách định vị khối u nội tiết tụy trước khi phẫu thuật. Quy cách cắt tụy "mù", được tuân thủ từ lâu, thường không có hiệu quả; ngoài ra nó còn cản trở cả việc theo dõi lẫn việc phẫu thuật sau này. Insulinom là loại khối u độc nhất biện minh cho thăm dò phẫu thuật mặc dù chẩn đoán hình ảnh không rõ: vì khối u gần như chắc chắn là ở tụy, đơn độc và lành tính. Những khối u khác thì xử trí như vậy là không được ; sự tiết hormon của khối u có thể kiểm soát cho đến khi nó được phát hiện, và tính cách ác tính của nó làm hạn chế việc phẫu thuật tụy. Phải giữ gìn bệnh phẩm cẩn thận để làm các xét nghiệm mô học.
Ðối với bệnh nhân đã có di căn, việc cắt bỏ khối nguyên phát không có lợi ích gì mà còn gây stress có hại. Ngoại lệ là những khối u có khả năng gây ra các biến chứng vùng hay tại chỗ, hoặc những khối u phát triển rất chậm nên cần phải loại trừ nguồn gây di căn mới.
Là chỉ định thông thường hơn khi mà hội chứng tiết hormon không giảm sau điều trị nội khoa. Thủ thuật phải làm thế nào để cắt được càng nhiều phần khối u càng tốt mà ít gây nguy cơ, và không tổn hại nhiều nhu mô gan lành. Chiến lược này không thực hiện được khi mà di căn là ở ngoài gan như ở hạch, xương, phổi-màng phổi.
Ðể gây hoại tử một phần ở khối u ngày nay được thay thế bằng các kỹ thuật gây thuyên tắc mạch. Nhược điểm là không sử dụng được động mạch về sau. Phương pháp thông động mạch gan để làm hóa trị liệu tại chỗ cũng có nhược điểm như vậy.
Tất cả mọi thủ thuật về gan đã có di căn cần tính đến việc điều trị không phải là ngoại khoa sau này đặc biệt là phương pháp gây thuyên tắc mạch.
Là một chỉ định hiếm hoi: thời gian sống sót sau ghép chỉ khoảng một năm; phải chắc chắn là không có di căn ngoài gan. Chụp nhấp nháy đồ với somatostatin có thể giúp ích trong việc đánh giá sự lan rộng của di căn nếu là các khối u có thụ thể với somatostatin.
Sau khi thông động mạch gan, gây thuyên tắc mạch có/không có hóa chất: dẫn tới thiếu máu tại chỗ chọn lọc các nhân thứ phát giàu mạch máu. Kết quả đối với tiết hormon rất ngoạn mục nhưng không quá 6 tháng. Khó khăn là khó thông động mạch gan chính; hệ thống tĩnh mạch cửa bị tắc là một chống chỉ định.
Trong số lớn các trường hợp các tế bào của các khối u nội tiết tụy được trang bị các thụ thể somatostatin ở màng tế bào. Somatostatin kìm hãm sự giải phóng các hormon, và ức chế phần lớn các tác dụng sinh học của các hormon này. Trở ngại chính cho việc sử dụng nó là thời gian bán hủy của peptid tự nhiên ngắn (chỉ có 3mn) với hệ quả là phải dùng đường truyền tĩnh mạch, và nguy cơ tiết hormon bộc phát lại khi ngưng truyền.
có tính sinh học khả dụng rất cao khi tiêm dưới da, và có thời gian bán hủy (90 mn đối với octreotid) cho phép hiệu quả điều trị kéo dài nhiều giờ sau khi tiêm.
Hiện nay chỉ dùng octreotid (Sandostatineâ). Hợp chất này làm giảm tiết đến 80% đối với glucagonom và VIPom. Khi dùng lâu dài, và nếu không có điều trị phối hợp, có thể phải tăng liều dùng hàng ngày. Trong gastrinom thường nó làm giảm tiết gastrin và dịch vị dạ dày. Không dùng cho các trường hợp nhiều khối u nội tiết. Ðối với insulinom, các khối u này thường không có thụ thể với somatostatin, và biểu hiện hạ đường huyết buộc phải dùng các hormon điều chỉnh khác nên cũng không có chỉ định dùng somatostatin.
Các dẫn xuất tác dụng chậm của somatostatin không ngăn cản các biện pháp điều trị khác. Trên thực tế chúng được dùng để điều trị cơ bản hội chứng tiết hormon cũng như điều trị triệu chứng lâu dài khi có di căn. Không có tác dụng chống khối u vì vậy không nên sử dụng chúng trong các khối u không hoạt động.
Cho đến nay chưa có một phác đồ nào điều trị khỏi một u nội tiết tụy.
Hay dùng nhất là kết hợp streptozocin-5 fluorouracil, có khi cộng thêm doxorubicin. Nguy cơ độc là đối với thận; cần tránh suy thận không hồi phục bằng mọi cách. Mặc dù có một vài kết quả khả quan, liệu pháp này hiếm khi làm bớt kích thước khối u, và dù sao thời gian đáp ứng chỉ là dưới một năm.
Dacarbazin đã cho một số kết quả tốt trên những bệnh nhân có glucagonom. Các tác nhân khác như cisplatin, cyclophosphamid không có hiệu quả.
Một số cơ sở đã dùng các phác đồ mạnh: etoposid, cisplatin, holoxan trong trường hợp các khối u tụy không biệt hóa. Hơn 1/4 số bệnh nhân có thấy khối u nhỏ bớt nhưng thời gian đáp ứng giảm còn 6 tháng.
Interferon (bạch cầu người, tái tổ hợp alpha-2), có kết quả theo các tác giả Bắc Âu: giảm tiết trong 60% các trường hợp, giảm khối u ở 10-20% bệnh nhân. Theo một số tác giả khác kết quả không được mỹ mãn như vậy, và còn những bất lợi không nhỏ do các tác dụng phụ.
Theo kinh điển các khối u nội tiết tụy thường kháng với xạ trị. Tuy nhiên những nghiên cứu gần đây cho thấy đôi khi xạ trị có kết quả làm giảm khối u, và có thể giảm hoàn toàn. Chỉ định xạ trị được dành cho các khối u lớn mà không thể lấy đi được và lại kháng với hóa trị liệu.
Xạ trị ngoài ra còn chỉ định cho một số trường hợp di căn có định xứ ngoài nội tạng: như đám lớn hạch lưng-bụng, di căn xương có triệu chứng. ª
1. CHAYVIALLE JA: Tumeurs endocrines du pancréas. In Endocrine Diabète Nutrition pour le praticien. SIMEP. Paris 1994, 367-374.
2.
MAI THẾ TRẠCH. Khối u nội tiết của tuỵ. Y HỌC
TP.HCM. Số đặc biệt chuyên đề nội tiết tập 2, phụ bản của
số 3 1998, 36-41.
3. MAI THẾ TRẠCH, NGUYỄN THY KHUÊ. Khối u nội tiết của tuỵ. In Nội tiết học đại cương. Nhà xuất bản TP.HCM 1999, 769-781.