- GH nền > 5ng/ml ( số trung bình)
- IGF-1 tăng
- GH sau HGPO (100g Glucose) > 2 ng/ml
Chúng tôi áp dụng tiêu chuẩn lành bệnh được áp dụng từ 1997 bởi câu lạc bộ tuyến yên của Pháp (Club hypophysaire de France):
- Kiểm soát tốt: Nồng độ GH < 2 ng/ml sau khi điều trị và/hoặc IGF-1 về bình thường.
- Kiểm soát trung bình: GH < 5 ng/ml và > 2 ng/ml với IGF-1 còn cao sau điều trị.
- Kiểm soát kém: GH >5 ng./ml sau điều trị.
Tóm lại:
|
GH< 2 ng/ml và/hoặc
IGF-1 bình thường |
2ng/ml<GH<5ng/ml và
IGF-1 cao |
GH > 5ng/ml |
|
Kiểm soát tốt |
Kiểm soát trung bình |
Kiểm soát kém |
Các số liệu thống kê với độ lệch chẩn được xử trí tại khoa sức khỏe cộng đồng và phòng tin học trường Ðại học Bordeaux II.
-Giới: Trong số 92 bệnh nhân được ghi lại có 42 nam và 50 nữ với tỉ lệ nam:nữ = 1:1,19.
-Tuổi: Thay đổi từ 24 đến 89 tuổi với tuổi trung bình là 56,62 ± 15,10 tuổi.
Các triệu chứng giúp gợi ý chẩn đoán: trong 92 bệnh nhân to đầu chi, triệu chứng khởi đầu là thay đổi nét mặt trở nên thô (n=56), chảy mồ hôi nhiều (n=47), hội chứng ống cổ tay (n=23), nhức đầu (n=66) và đau khớp (n=44). Có 5 bệnh nhân rối loạn đường huyết khi làm nghiệm pháp HGPO và 4 bệnh nhân thực sự chẩn đoán là đái tháo đường 26 bệnh nhân có cao huyết áp vào thời điểm chẩn đoán bệnh.
Bảng 1: Tỷ lệ các triệu chứng gợi ý chẩn đoán
|
Triệu chứng gợi ý chẩn
đoán |
Tỷ
lệ xuất hiện |
|
- Nhức đầu - Thay đổi nét mặt - Ðổ mồ hôi nhiều - Ðau khớp - Cao huyết áp - Hội chứng ống cổ tay - Rối loạn dung nạp glucoz - Ðái tháo đường |
66/92 (71,73%) 56/92 (60,86%) 47/92 (51,08%) 44/92 (47,82%) 26/92 (28,26%) 23/92 (25%) 05/92 (5,43 %) 04/92 (4,34%) |
Thời gian từ lúc có triệu chứng đến khi chẩn đoán được xác lập: thời gian này được ghi nhận trong lúc hỏi bệnh do đó chỉ có tính chất tương đối vì bệnh án được làm bởi nhiều đối tượng khác nhau (bác sĩ, nội trú, sinh viên). Thời gian trung bình này được ghi nhận là 7,40 ± 11,5 năm (thay đổi từ 1,5 - 18 năm). Tuổi trung bình vào thời điểm chẩn đoán bệnh là 39,2 ± 11,5 tuổi.
Thời gian theo dõi bệnh trung bình từ khi phát hiện triệu chứng là 12,2 ± 7,61 năm(2 - 23 năm).
+ GH: có tất cả 78 bệnh nhân được xét nghiệm nồng độ GH. 3 bệnh nhân nhập viện được phẫu thuật cấp cứu vì đột quị tuyến yên, tăng áp lực nội sọ và rối loạn thị trường. 5 bệnh nhân được chẩn đoán trong những năm 1970 nên số liệu bị thất lạc. 6 bệnh nhân còn lại được chẩn đoán đơn thuần bằng lâm sàng và giới thiệu trực tiếp đến phẫu thuật viên thần kinh. Trong số 78/92 bệnh nhân được xét nghiệm GH cho thấy nồng độ GH trước điều trị là 30,90 ± 27,22 ng/ml.
+ IGF1: Cũng chỉ có 63/92 bệnh nhân được xét nghiệm nồng độ IGF-1 với nồng độ trung bình là 873,74 ± 30,30 ng/ml và có sự tương quan có ý nghĩa thống kê với nồng độ GH tăng cao (r=0,77, p< 0,0001).
+ Có 45/92 bệnh nhân được tiến hành xét nghiệm các chức năng của các tuyến nội tiếp chi phối bởi tuyến yên:
- Bình thường : 38
- Suy giáp kết hợp: 1
- Suy sinh dục: 1
- Suy thượng thận: 1
§ 1 ca blốc 1 phần enzym 21- hydroxylaz
§ 1 ca cường giáp nguyên phát
§ 1 ca bướu giáp đa nhân độc có phản âm không đồng nhất qua siêu âm
§ 1 ca cường giáp thứ phát do tăng tiết TSH.
Các chẩn đoán hình ảnh: Mức độ xâm lấn của khối u được chẩn đoán bằng CT scan hay MRI. Có tất cả 65/92 trường hợp có hình ảnh đánh giá mức độ xâm lấn, trong đó 8 Adenom ở giai đoạn I, 41 trường hợp ở giai đoạn II, 9 ở giai đoạn III và 7 giai đoạn IV.
Là phương pháp ưu tiên chọn lựa hàng đầu, với 76/92 bệnh nhân (82,6%).
· Nồng độ GH trung bình hậu phẫu là 12,83 ± 7,42 ng/ml so với 27,42 ± 4,38 ng/ml tiền phẫu.
· Nồng độ IGF-1 trung bình hậu phẫu là 541,13 ± 547,9 ng/ml so với 702,16 ± 104,32 tiền phẫu.
· Kỹ thuật thường được sử dụng nhất là kỹ thuật lấy Adenom qua xương bướm. GH trở về bình thường theo các tiêu chuẩn lành bệnh đã nêu như sau:
|
Kiểm
soát xấu |
Kiểm
soát trung bình |
Kiểm
soát tốt |
|
28 |
17 |
16 |
|
- Giai đoạn I: 5 - Giai đoạn II: 3 - Giai đoạn IV: 10 |
- Giai đoạn II: 4 - Giai đoạn III: 12 - Giai đoạn IV: 1 |
- Giai đoạn II: 14 - Giai đoạn III: 2 |
Trong những trường hợp nồng độ GH không trở về bình thường sau phẫu thuật, xạ trị bổ sung được chỉ định. Xạ trị cũng là một phương pháp điều trị hiệu quả về lâu dài. Xạ trị bổ sung được tiến hành ở 28 bệnh nhân trong nhóm.
Thời gian theo dõi sau xạ trị trung bình là 7,55 ± 6,5 năm. Nồng độ GH < 5 ng/ml đạt được ở 14 bệnh nhân (50%) sau một thời gian theo dõi trung bình là 9,72 ± 4,3 năm. Kết quả xạ trị được ghi nhận như sau:
|
Kiểm soát xấu |
Kiểm soát trung bình |
Kiểm soát tốt |
|
5/28 (17,85%) |
9/28 (32,14%) |
14/28 (50%) |
Trong 14 bệnh nhân kiểm soát tốt bằng xạ trị, có 6 trường hợp suy tuyến yên toàn bộ, 2 suy trục hướng giáp, 1 suy hướng sinh dục đơn thuần.