BÀN LUẬN

Phân bố tuổi và giới

Tuổi

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi bệnh nhân thay đổi từ 19 đến 88 tuổi, phù hợp với nghiên cứu của G V Gill và cộng sự (trên 43 bệnh nhân hạ đường huyết tại Nam phi trong 5 tháng)(1).

Giới

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nam/nữ xấp xỉ 3/2 ,khác biệt so với nghiên cứu của G.V Gill và cộng sự(1). Sự khác biệt này có thể do 1 số nguyên nhân.

(1) Một là, tiêu chuẩn chọn lựa đối tượng nghiên cứu của chúng tôi khác với của G.V Gill. Chúng tôi chọn tất cả những trường hợp hạ đường huyết xuất hiện trên bệnh nhân đái tháo đường (từ hạ đường huyết không có triệu chứng lâm sàng cho đến hạ đường huyết nặng) với trị số đường huyết < 70 mg/dL (3,88 mmol/L). G.V.Gill chọn bệnh nhân đái tháo đường (điều trị với Insulin và / hoặc Sulfonylure) có rối loạn tri giác do hạ đường huyết, trị số đường huyết < 40 mg/dL (2,2 mmol/L) và cần được điều trị bằng cách truyền dung dịch Glucoz.

(2) Hai là, tỷ lệ nữ / nam trong số bệnh nhân đái tháo đường nhập viện.

Xuất độ

Hạ đường huyết chiếm 7,3% các trường hợp đái tháo đường nhập bệnh viện Chợ rẫy.

Bảng 11: Xuất độ hạ đường huyết trên bệnh nhân đái tháo đường

Tác giả

Chúng tôi

(n=108)

Sugarman.

JR (n=109)15

Bielefedt K

(n=138)14

Casperie A.F (n=400)12

Xuất độ

7,3%

5,7%

7,0%

8,0%

Khi so sánh tần xuất hạ đường huyết với 1 số tác giả, sự khác biệt giữa nghiên cứu của chúng tôi với Sugarman JR là do đối tượng nghiên cứu. Ðối tượng nghiên cứu của chúng tôi gồm đái tháo đường týp 1 và 2, hạ đường huyết xảy ra trong bệnh viện và ngoài bệnh viện. Sugarman J.R chỉ chọn đái tháo đường týp 2 và hạ đường huyết ngoài bệnh viện.

Triệu chứng lâm sàng

Tỷ lệ các nhóm triệu chứng

Trong nghiên cứu của chúng tôi, triệu chứng rối loạn hệ thần kinh trung ương chiếm tỷ lệ cao nhất (34,25%), sau đó là triệu chứng rối loạn thần kinh tự chủ (29,6%). Kết quả này có khác biệt so với các tài liệu Âu mỹ (tỷ lệ rối loạn thần kinh trung ương thấp hơn thần kinh tự chủ)(2).

Trong nghiên cứu của chúng tôi, triệu chứng rối loạn hệ thần kinh trung ương cao hơn có lẽ do bệnh nhân của chúng tôi lớn tuổi hơn. Bệnh nhân đái tháo đường lớn tuổi thường giảm khả năng nhận biết triệu chứng rối loạn thần kinh tự chủ nhưng khả năng nhận biết triệu chứng rối loạn hệ thần kinh trung ương thường là bình thường. Ngoài ra, khi hạ đường huyết bệnh nhân đái tháo đường lớn tuổi thường dễ bị nặng hơn (hạ đường huyết nặng ở đây là hạ đường huyết có rối loạn tri giác) so với bệnh nhân đái tháo đường nhỏ tuổi. Ðiều này có lẽ do giảm độ thanh lọc của các loại thuốc hạ đường huyết qua gan hay qua thận, do thay đổi hệ thống hormon điều hòa đường huyết(3). Triệu chứng rối loạn thần kinh tự chủ thấp hơn có thể do chúng tôi chỉ chọn 4 triệu chứng sau đây (hồi hộp trồng ngực, vã mồ hôi, run, đói và mệt) để đánh giá.

Mối tương quan giữa các nhóm triệu chứng và đường huyết

Ngưỡng đường huyết để triệu chứng hạ đường huyết xuất hiện trên bệnh nhân đái tháo đường rất dao động. Một số bệnh nhân thích nghi khá tốt với tình trạng đường huyết thấp và không có biểu hiện lâm sàng của hạ đường huyết. Một  số bệnh nhân khác lại xuất hiện triệu chứng lâm sàng của hạ đường huyết khi mà đường huyết chỉ mới giảm đến giới hạn thấp của giá trị bình thường. Do triệu chứng lâm sàng và trị số đường huyết không hoàn toàn song hành nên chẩn đoán hạ đường huyết có thể sai nếu chúng ta chỉ đơn thuần dựa vào lâm sàng mà không định lượng đường huyết để kiểm chứng(11).

Nhóm không có triệu chứng lâm sàng (gồm 26 bệnh nhân) có thể do những bệnh nhân này giảm khả năng nhận biết hạ đường huyết. Dựa vào xét nghiệm đường huyết (thực hiện trong quá trình điều chỉnh liều thuốc hạ đường huyết) chúng tôi đã phát hiện được 22 trong số 26 trường hợp nêu trên. 04 trường hợp còn lại hạ đường huyết xảy ra ngoài bệnh viện. Những bệnh nhân này đều có tiền căn đái tháo đường đã được chẩn đoán và điều trị tại 1 bệnh viện hoặc 1 cơ sở y tế tư nhân. Họ nhập viện do tai biến mạch máu não (01 trường hợp), viêm phổi (02 trường hợp), nhiễm trùng tiểu (01 trường hợp). Trị số đường huyết để triệu chứng xuất hiện ở nhóm bệnh nhân này thấp hơn so với nhóm không giảm khả năng nhận biết hạ đường huyết. Thực vậy, triệu chứng hạ đường huyết thậm chí không xuất hiện ngay cả khi đường huyết ở trị số (40 mg% (2,2 mmol/ L)(4).

Nguyên nhân

Do bỏ ăn hay ăn kém

Bảng 12: Tỷ lệ hạ đường huyết do bỏ ăn hay ăn kém theo 1 số tác giả

Tác giả

Chúng tôi
(1995-1998) n = 108

G.V Gill (1993) n = 43

Kathleen (1986)

n = 94

Tỷ lệ

47,3%

36%

45%

Dường như việc không giảm liều thuốc hạ đường huyết trên những bệnh nhân này đã thúc đẩy họ dễ rơi vào tình trạng hạ đường huyết hơn.