Trước đây, để
chứng minh được một tác nhân vi sinh vật gây bệnh mới, người
ta phải cấy phân lập được vi sinh vật này vào trong ống
nghiệm (môi trường nuôi cấy hay cấy tế bào), hoặc nhìn thấy
được nó qua kính hiển vi hay kính hiển vi điện tử, hoặc phát
hiện được dấu vết kháng nguyên của vi sinh vật, hay phát
hiện được kháng thể đặc hiệu có trong huyết thanh của bệnh
nhân bị nhiễm trùng. Trong trường hợp VGKAKB,
các nhà khoa học cũng đã dùng các phương cách trên
để cố gắng phát hiện tác nhân gây bệnh nhưng đã hoàn
toàn thất bại sau hơn 10 năm nghiên cứu với rất nhiều tốn
kém. Chính vì vậy mà khi các nhà sinh học phân tử vào cuộc
và chỉ sau hơn 1 năm đã lôi ra được ánh sáng HCV, tác nhân
chủ yếu của VGKAKB, thì đồng thời
cũng đã mở ra một con đường mới cực kỳ nhanh chóng và
có hiệu quả để phát hiện các tác nhân nhiễm trùng bí mật.
*
Thử nghiệm huyết thanh học thế hệ 1
Ngay sau khi protein tái tổ hợp c100-3 được ly trích, kỹ thuật miễn dịch phóng xạ đã được áp dụng để phát hiện các kháng thể đặc hiệu HCV trong những mẫu huyết thanh bệnh nhân bị VGKAKB. Kết quả cho thấy độ nhạy khá cao, chỉ có một trường hợp âm tính chính là trường hợp của mẫu huyết thanh lấy trong giai đoạn cấp tính. Sau đó cũng với kháng nguyên c100-3, Ortho Diagnostic System và Chiron đã phát triển kỹ thuật miễn dịch men (EIA) trên giếng nhựa; được FDA chấp nhận 5/1990, rồi Abbott phát triển kỹ thuật miễn dịch trên vi hạt, được FDA chấp nhận 7/1990 dùng để sàng lọc nhiễm HCV các mẫu máu trong cho máu và truyền máu.
Các thử nghiệm huyết thanh học thế hệ 1 nói chung đạt được độ nhạy 80-90% khi thử nghiệm trên nhóm bệnh nhân viêm gan mạn sau truyền máu. Thử nghiệm huyết thanh học thế hệ 1 không phát hiện kháng thể đặc hiệu HCV ở giai đoạn sớm, cấp tính (10-15 tuần sau nhiễm). Trong các trường hợp bệnh nhân đã khỏi bệnh, do kháng thể đặc hiệu vẫn còn tồn tại một thời gian dài, nên thử nghiệm vẫn còn dương tính. Ðể có thể khắc phục nhược điểm này, người ta đã thử phát hiện kháng thể đặc hiệu thuộc lớp IgM, nhưng có lẽ đắt tiền nên chưa được áp dụng rộng rãi. Ngoài ra khi thử nghiệm trên nhóm nguy cơ thấp, các thử nghiệm huyết thanh học thế hệ 1 cho rất nhiều dương tính giả. Chính vì vậy Chiron phát triển kỹ thuật miễn dịch thấm trên que với các vệt thấm các kháng nguyên 5-1-1, c100-3, SOD, IgG hàm lượng cao, và IgG hàm lượng thấp, nhằm loại trừ các kết quả dương tính giả do kháng thể không đặc hiệu HCV.
*
Thử nghiệm huyết thanh học thế hệ 2
ra đời trong đó không dùng đơn kháng nguyên mà dùng đa kháng nguyên. Như EIA2, dùng đa kháng nguyên c22-3, c33c, c33c + c100-3= c200, và chính nhờ đưa thêm các kháng nguyên c22-3 và c33c và c200 là polypeptid liên kết giữa c33c và c100-3 mà đã phát hiện được kháng thể đặc hiệu HCV giai đoạn cấp tính, tăng độ nhạy của thử nghiệm thêm 10% đến 30%.
Cùng với EIA2, Chiron phát triển thế hệ RIBA2, với các vạch kháng nguyên 5-1-1, c100-3, c33c, c22-3, SOD, IgG hàm lượng cao, và IgG hàm lượng thấp. Kết quả thử nghiệm được coi là dương tính khi có ít nhất hai vệt kháng nguyên phản ứng với độ đậm lớn hơn độ đậm của vệt IgG hàm lượng thấp và không có phản ứng với vạch kháng nguyên SOD. Kết quả được coi là không xác định khi chỉ có phản ứng với các vạch kháng nguyên xuất phát từ một vùng gen như 5-1-1 và c100-3 của cùng gen NS4 hay kháng nguyên c22-3 của vùng Nucleocapsid (core), hay có phản ứng với vạch kháng nguyên SOD (hình 2).
*
Thử nghiệm huyết thanh học thế hệ 3

Khi so sánh kết quả giữa EIA2 và RIBA2, người ta nhận thấy rất nhiều mẫu máu dương tính với EIA2 thì cho kết quả không xác định với RIBA2, và đa số các trường hợp này chỉ phản ứng với vạch c22-3. Ðể giải quyết được tình trạng phản ứng không xác định trong RIBA2, thế hệ RIBA3 đã ra đời với kháng nguyên c100-3 và c22-3 thay vì là polypeptid tái tổ hợp, người ta dùng protein tổng hợp, trong khi đó c33c vẫn là polypeptid tái tổ hợp và thêm một vạch kháng nguyên NS5 cũng là polypeptid tái tổ hợp của vùng gen NS5 tương ứng. RIBA3 loại bỏ, không có vạch kháng nguyên 5-1-1. Các protein tổng hợp được thêm vào nhằm tránh các phản ứng chéo không đặc hiệu và tăng thêm độ nhạy.
Cùng với sự ra đời RIBA3 của Chiron, Abbott đã phát triển và đưa ra thị trường MEIA thế hệ 3 cũng với đa kháng nguyên: HCr43 là protein tái tổ hợp nối protein c22-3 với c33c, c200, c100-3, và NS5. MEIA thế hệ 3 hiện đang được nhiều phòng thí nghiệm sử dụng nhờ giá thành rẽ hơn RIBA3.
Thử nghiệm huyết thanh học, thế hệ càng về sau càng rất có giá trị để chẩn đoán xác định nhiễm HCV trong nhóm có nguy cơ cao như nhóm các bệnh nhân bị viêm gan sau truyền máu hay trong các bệnh nhân nằm viện với các triệu chứng viêm gan. Ngoài ra, nhiễm HCV đa số là qua truyền máu, do đó bên cạnh thử nghiệm miễn dịch học phát hiện virút viêm gan A; viêm gan B, việc sử dụng thử nghiệm huyết thanh học phát hiện kháng thể đặc hiệu HCV để sàng lọc trong truyền máu là rất có giá trị để giảm nguy cơ nhiễm các tác nhân virút gây viêm gan sau khi truyền máu.
Tuy
nhiên trong cộng đồng, có thể dùng thử nghiệm huyết thanh học
để chẩn đoán xác định nhiễm HCV hay không lại là một vấn
đề cần phải xem xét một cách cẩn thận.
-
Trước hết, phải biết thế hệ của thử nghiệm huyết
thanh học đang dùng, nếu là thế hệ 1 thì chẳng những độ
nhạy thấp vì không thể phát hiện kháng thể đặc hiệu trong
giai đoạn sớm cấp tính của bệnh, mà độ đặc hiệu cũng có
vấn đề, nhiều phản ứng dương tính giả khi thử nghiệm trong
nhóm nguy cơ thấp.