Phạm
Hùng Vân*,
Hor Sokhy**,
Ðỗ thị Thanh Thủy*, Lê
Thúy Quyên*,
Nguyễn Phạm Thanh Nhân*, Ðông Thị Hoài An*
Bằng các kỹ thuật sinh học phân tử, các nhà khoa học đã lôi được ra ánh sáng virút viêm gan C (HCV), một tác nhân chủ yếu gây viêm gan không A, không B (VGKAKB) sau truyền máu. Theo sau sự phát hiện HCV, các thế hệ thử nghiệm huyết thanh học ra đời, nhờ đó đã có thể sàng lọc được HCV trong cho máu và truyền máu cũng như phát hiện được các trường hợp nhiễm HCV trong các bệnh nhân bị viêm gan.
Các nhà nghiên cứu y học của chúng ta hiện cũng đang vén bức màn bí mật của HCV và tình trạng nhiễm HCV tại Việt Nam qua việc dựng thành công kỹ thuật RT-PCR phát hiện trực tiếp HCV-RNA trong huyết thanh bệnh nhân. Thử nghiệm nầy hiện đang được áp dụng chẳng những trong nghiên cứu mà còn được thực hiện trong chẩn đoán thường qui. Chẳng những thế trong một tương lai rất gần, kỹ thuật nầy rất có thể được chuyển giao dễ dàng đến các phòng thí nghiệm khác trong nước.
"BRING INTO LIGHT THE VIRAL PATHOGEN CAUSING HEPATITIS C
Pham Hung Van, Hor Sokhy, Do Thi Thanh Thuy, Le Thuy Quyen, Nguyen Pham Thanh Nhan, Dong Thi Hoai An * Y hoc TP. Ho Chi Minh 1999 * Vol. 3 * No. 3: 144-152
By the means of molecular biology, Scientists have brought into light the HCV, the main pathogen of non A - non B hepatitis after transfusion. After the detection of HCV, the generations of serological tests have been developed and applied in screening of HCV in blood donor and transfusion, and in defined diagnosis of HCV infection in patients with hepatitis. Our scientists in medical field have also brought into light the HCV and HCV infection situation in our Vietnamese population through the successful setting up the RT-PCR to detect directly the HCV-RNA in patients’ sera. This RT-PCR technique is not only applying in research but also in routine diagnosis. In addition, this kind of technique is going to be transfered to other laboratories in the country."
Vào năm 1975, các kỹ thuật miễn dịch phát hiện tác nhân
virút gây viêm gan siêu vi A và B đã bắt đầu được cho phép
dùng sàng lọc trong truyền máu, và chúng ta đã có hy vọng
rằng có thể ngăn ngừa hoàn toàn các trường hợp viêm
gan siêu vi sau truyền máu. Nhưng chỉ một thời gian ngắn các
nhà khoa học và y học đã phát hiện rằng còn có ít nhất
một tác nhân nhiễm trùng bí mật nào đó
chịu trách nhiệm trong nhiều trường hợp bị viêm gan sau
truyền máu mặc dù các bịch máu truyền đã qua sàng lọc tác
nhân virút viêm gan A và B (Prince, 1975). Người ta đã gọi những
trường hợp này là viêm gan không A không B (VGKKÞB) sau truyền
máu.
Kể từ đó trở đi, tất cả các phương tiện, phương pháp nghiên cứu miễn dịch học và virút học hiện đại và tốn kém đã được dùng để cố gắng tìm cách phát hiện tác nhân gây bệnh ẩn mặt này, nhưng kết quả vẫn là con số không, không nuôi cấy được virút, không thấy được virút qua kính hiển vi điện tử, không tìm được dấu vết của kháng nguyên đặc hiệu, và không phát hiện được một kháng thể đặc hiệu nào.
Năm 1989, chỉ sau hơn một năm cật lực nghiên cứu, các dấu vết đầu tiên của tác nhân gây bệnh này đã được phát hiện (Choo, 1989) và dần dần toàn bộ bộ gen cũng như các cấu trúc của virút đã được các nhà khoa học lôi ra ánh sáng(1,2).
Virút
gây bệnh được đặt tên là virút viêm gan C (HCV), đây là
virút nhỏ có vỏ bọc, bộ gen là
một chuỗi RNA mạch (+) chứa 9.400 nucleotid và có một vùng mã
hóa lớn tương đương với một polyprotein dài 3.011acid amin
(aa). Virút có cấu trúc di truyền giống nhóm pestivirus, cấu trúc
protein giống nhóm flavivirus.
HCV là tác nhân chủ yếu (70-95%) VGKAKB sau truyền máu. Có thể từ mẹ sang con, qua tình dục, qua dụng cụ. Tuy nhiên có đến trên một nửa các trường hợp nhiễm HCV mà không rõ đường truyền. Tỷ lệ nhiễm là 0,2 - 2% trong các trường hợp người cho máu, và đến 80% trong các trường hợp tiêm chích ma túy. Có từ 50% đến 80% các trường hợp viêm gan siêu vi C chuyển qua mạn tính và 20-25% các trường hợp mạn tính bị chuyển qua xơ gan và/hay ung thư gan. Các trường hợp viêm gan mạn tính được biểu hiện thông qua sự dao động của men gan alanine amino transferase (SGOT), và có thể thấy rõ sự thay đổi tổ chức gan qua sinh thiết gan.
Ðiều trị nhiễm HCV bằng interferon alpha đã được Cơ quan Quản trị Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ chấp nhận và điều trị này có thể loại trừ được virút. Tuy nhiên chỉ có dưới 50% các trường hợp đáp ứng với điều trị, và cũng thường hay bị tái phát.
Các nhà sinh học phân tử khi nhập cuộc đã thiết kế và thực hiện một chương trình nghiên cứu rất thông minh, nhưng cũng đầy công phu và gian khổ, nhờ đó đã phát hiện được tác nhân HCV. Có thể tóm tắt các bước đi của chương trình nghiên cứu này như sau(1,2):
·
Trước hết gây nhiễm thực nghiệm cho tinh tinh một
sản phẩm từ máu là yếu tố XIII bị nhiễm tác nhân gây
VGKAKB.
·
Sau đó lấy một lượng lớn huyết tương của tinh
tinh này, siêu ly tâm để ly trích toàn bộ acid nucleic có trong
huyết tương với hy vọng trong số đó có acid nucleic của tác
nhân gây bệnh VGKAKB.
·
Dùng kỹ thuật mồi ngẫu
nhiên để tổng hợp các cDNA (DNA bổ sung) từ các acid nucleic
đã ly trích, lập thư viện cDNA với vectơ là pha lgt11.
·
Ðưa vectơ
lgt11
có cDNA vào tế bào E. coli để biểu hiện polypeptid. Có hàng triệu dòng với
hàng triệu polypeptid đã được biểu hiện và thu nhận được.
·
Sàng lọc hơn một triệu
polypeptid này, phát hiện 1 polypetid từ dòng 5-1-1 phản ứng đặc
hiệu với kháng thể trong huyết thanh người VGKAKB sau truyền máu.
·
Từ dòng 5-1-1, chế các
đoạn dò đặc hiệu, dò lại trên thư viện cDNA, phát hiện
được một đoạn gen đầu tiên c-100.
· Chèn c-100 vào vectơ có gen SOD người là một gen có tính khởi động mạnh, đưa vectơ tái tổ hợp này vào tế bào nấm men, biểu hiện được protein c100-3. Từ protein c100-3 này, các thế hệ đầu tiên của thử nghiệm miễn dịch ra đời để sàng lọc trong cho máu và truyền máu.
* Phòng thí nghiệm Y-Sinh học, Ðại Học Y Dược TP. HCM.
** Nghiên cứu sinh gan mật, Ðại Học Y Dược TP. HCM