Ðối tượng gồm 45 trẻ nôn, chiếm 34% trong tổng số 132 trẻ chán ăn kéo dài được khảo sát gồm 25 nam và 20 nữ có các đặc điểm như sau:
· Tuổi (tháng): 21,12 ± 10,74
· Thể trọng (kg): 7,24 ± 1,15
· Chiều cao (cm): 74,68 ± 6,19
· Z score thể trọng/tuổi: -2,87 ± 0,68
· Z score chiều cao/tuổi: -3,03 ± 1,04
· Nôn + chán ăn chọn lọc với thịt cá: 17,8%
· Nôn + táo bón: 26,6%
· Nôn + lối loạn giấc ngủ: 62,2%
· Nôn + còi xương: 8,8%
· Năng lượng dung nạp (Kcal/kg): 64,5 ± 22,4
· Số lần nôn/ngày: 3,1 ± 0,8 (2-5)
· Nôn trong khi ăn: 31,1%
· Nôn ngay sau ăn: 51,1%
· Nôn sau ăn 10 - 20 phút: 13,3%
· Nôn sau ăn trên 20 đến vài giờ: 4,4%
· Nôn khi đùa giỡn hay kích thích mạnh: 8,8%
· Nôn khi va chạm nhẹ: 2,2%
· Nôn khi thấy mẹ bưng chén hay cầm muỗng: 2,2%
· Nôn xuất hiện sau một thời gian bị mẹ ép ăn do biếng ăn: 15,5%
· Nôn xuất hiện trong lúc nhiễm trùng đường hô hấp và vẫn tồn tại sau khi viêm hô hấp đã khỏi: 26,6%
· Không rõ hoàn cảnh xuất hiện nôn: 57,7%
· Nôn từ lúc mới sanh: 6,6%
· < 3 tháng: 26,6%
· 3 - < 6 tháng: 24,4%
· 6 - < 12 tháng: 22,2%
· 12 tháng: 20,0%
Chất nôn: chất nôn là thức ăn còn nguyên vẹn hoặc đã tiêu hóa một phần.
Không phát hiện một bất thường nào về hệ thống tiêu hóa.
Có 3 trẻ được siêu âm chẩn đoán là hội chứng trào ngược dạ dày - thực quản trước khi đến khám.
Xét nghiệm máu: n = 45 ca
Kẽm huyết thanh (mg
/ dL): 67,9 + 6,5
Hb (g%): 10,4 + 1,1
Hct (%): 31,1 + 3,6
McH (pg): 24,1 + 2,0
Mcv (fl): 74,3 + 4,4
Có 18 ca nôn nhiều lần được xét nghiệm Ion đồ đều cho kết quả bình thường.
Khảo sát mối liên quan giữa triệu chứng nôn và tình trạng thiếu kẽm cho thấy chúng có mối liên quan rất rõ (P<0,01). Các trẻ nôn có nguy cơ thiếu kẽm gấp 3,2 lần trẻ không nôn (OR = 3,2; KTC 95% = 1,5 - 6,5). Tỷ lệ trẻ nôn có thiếu kẽm là 71%, không thiếu kẽm chỉ chiếm 29% (Bảng 1).
Bảng 1: Liên quan giữa nôn và thiếu kẽm và nguy cơ thiếu kẽm ở trẻ nôn.
|
Nôn |
n(%) |
Kẽm huyết thanh |
||
|
< 70mg/dL |
³70mg/dL |
P, OR |
||
|
Có |
45(100%) |
32 (71%) |
13 (29%) |
* X2 =9,933 * P< 0,01 |
|
Không |
87 (100%) |
38 (44%) |
49 (56%) |
* OR=3,2 * KTC 95% = 1,5-6,5 |
|
Tổng |
132(100%) |
70 (53%) |
62 (47%) |
|
Lúc khởi đầu của 2 tiểu nhóm có triệu chứng nôn được rút ra từ nhóm kẽm và nhóm chứng tương ứng của các trẻ chán ăn được nghiên cứu có các đặc trưng về giới, tuổi, nhân trắc, thời gian nôn và số lần nôn được phân bố đều ở 2 tiểu nhóm không khác nhau, p>0,05 (Bảng 2)
Bảng 2:
Các đặc điểm lúc khởi đầu của
2 tiểu nhóm trẻ nôn trong đối tượng nghiên cứu.
|
|
Tiểu nhóm |
|
|
Kẽm (n=24) |
Chứng (n=21) |
|
|
Nam / nữ |
14/24 |
11/21 |
|
Tuổi (tháng) |
20,7 + 10,6 |
21,6 + 10,9 |
|
Thể trọng (kg) |
7,1 + 1,1 |
7,4 + 1,2 |
|
Chiều cao (cm) |
74,5 + 6,1 |
74,9 + 6,3 |
|
WAZ |
-2,89 + 0,64 |
-2,85 + 0,72 |
|
HAZ |
-3,05 + 1,1 |
-3,01 +0,98 |
|
Thời gian nôn (tháng) |
7,2 + 4,4 |
7,4 + 4,9 |
|
Số lần nôn/ngày |
3,0 + 0,8 |
3,1 + 0,9 |
Tác dụng của bổ sung kẽm lên trẻ có triệu chứng nôn sau các khoảng thời gian bổ sung kẽm là 1 tuần, 10 ngày, và 15 ngày đều có tác dụng chữa khỏi nôn rất rõ so với lô chứng (p<0,001, p< 0,001, p<0,001) (bảng 3)
Bảng 3: Kết quả hết nôn sau điều trị của nhóm kẽm và nhóm chứng theo thời gian
|
Tỷ
lệ trẻ hết nôn theo thời gian điều trị |
Tiểu
nhóm |
P |
|
|
Kẽm (n=24) |
Chứng (n=21) |
|
|
|
% khỏi sau 1 tuần |
83,3% |
0,0% * |
<0,001 |
|
% khỏi sau 10 ngày |
87,5% |
4,8% |
<0,001 |
|
% khỏi sau 15 ngày |
95,8% |
19,0% |
<0,001 |
*
Có hiệu chỉnh theo công thức Vander Waarden để so sánh khi 1
trong 2 tỷ lệ là 0%
Khi dùng phép kẽm phi tham số để đánh giá riêng cho nhóm được bổ sung kẽm, sau một tuần điều trị cho thấy bổ sung kẽm có tác dụng điều trị nôn rõ rệt trên 83% trường hợp, đạt độ tin cật 99%. Trong khi đó ở lô chứng không có trường hợp nào khỏi bệnh. Trong suốt 3 tháng theo dõi cho thấy ở lô kẽm chỉ có 3 trường hợp tái phát khi trẻ bị nhiễm trùng đường hô hấp nhưng chỉ nôn nhẹ và khỏi ngay sau khi nhiễm trùng chấm dứt. Sau 3 tháng, trong lô chứng còn 10 trẻ vẫn tiếp tục nôn (47,6%) và sau khi được bổ sung kẽm cũng cho một kết quả tương tự nhóm bổ sung kẽm trước đó và chỉ sau 12 ngày, triệu chứng nôn của các trẻ trên hoàn toàn biến mất. Sau một tháng điều trị cho thấy các chỉ số về mức tiêu thụ năng lượng, sự gia tăng thể trọng đều được cải thiện rõ rệt so với lô chứng (p < 0,001, p < 0,001) và sau 3 tháng hàm lượng kẽm huyết thanh cũng được nâng lên rõ hơn so với lô chứng (p<0,05). Riêng các chỉ số về huyết học ở cả 2 lô đều được nâng lên đồng bộ và không có sư khác biệt vì cả 2 lô đều được bổ sung sắt như nhau (bảng 4)
Bảng 4: Hiệu quả bổ sung kẽm lên các chỉ số dinh dưỡng và sinh học ở các trẻ nôn
|
Các
chỉ số |
|
|
P |
|
|
Kẽm |
Chứng |
|
|
a)
Sau 1 tháng đầu ·
Năng lượng tiêu thụ (Kcal/kg/ngày) ·
Tăng trọng (g) b)
Sau 3 tháng ·
Kẽm huyết thanh (mg/dl) ·
Hb (g/dl) ·
Hct (%) ·
MCH (pg) ·
MCV (fl) |
n=24 108±20 414±120 n=16 76,8±8,4 12,36±1,45 35,50±3,46 28,10±1,63 80,6±5,4 |
n=21 82±16 248±102 n=12 71,2±6,3 12,52±1,49 35,38±3,58 29,20±1,74 81,2±5,5 |
<0,001 <0,001 <0,05 * * * * |
*
Sự khác nhau không có ý nghĩa thống kê