BÀN LUẬN

 Qua quá trình điều trị và các kết quả đạt được đã nảy sinh nhiều vấn đề cần bàn luận. Tuy nhiên, các vấn đề cần đi sâu là sự di lệch thứ phát, sự phục hồi vận động và các biến chứng.

 Trong 36 trường hợp được thực hiện theo phương pháp Kapandji, có 2 trường hợp di lệch thứ phát chiếm 5,6%. Tỉ lệ này thấp hơn nhiều so với tác giả Nguyễn Phương Hồng là 18,3% trên 61 trường hợp gãy đầu dưới xương quay điều trị nắn bó bột(3) và 51% theo Castaing(1). Như vậy, tỉ lệ di lệch này có thể chấp nhận được (5,6%). Tuy nhiên, cần tiếp tục thực hiện với số lượng lớn hơn. Hai trường hợp di lệch thứ phát xảy ra có thể do đường gãy bờ sau có mảnh vụn vì chỉ có di lệch gập góc.

Vấn đề phục hồi vận động là vấn đề chính cần quan tâm. Vì bệnh nhân được tập vận động ngay sau bỏ nẹp bột (1 đến 3 tuần) nên tỉ lệ phục hồi vận động rất cao. Chúng tôi có 33 trên 36 trường hợp có mức độ phục hồi vận động loại tốt (tức phục hồi trên 80% vận động ở lần khám cuối). So với tác giả Nguyễn Phương Hồng thì tỉ lệ này là 66,1%(3).

 Tuy nhiên, chúng tôi có 3 trường hợp đạt kết quả chưa cao. Ðó là 2 trường hợp bị di lệch thứ phát, chỉ đạt phục hồi cơ năng loại khá. Một trong hai trường hợp này có triệu chứng rối loạn dinh dưỡng nhẹ. Dù rối loạn cơ năng không trầm trọng, nhưng cũng cho thấy sự di lệch thứ phát có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phục hồi cơ năng. Nên việc hạn chế di lệch cũng rất quan trọng.

 Các biến chứng khác như tổn thương thần kinh tạm thời (1 ca), rối loạn dinh dưỡng (1 ca) ở tỉ lệ thấp có thể chấp nhận được. Vấn đề kim bị tuột là 3% cũng cần quan tâm. Vấn đề này có thể hạn chế bằng việc tạo cho kim có đầu răng.

KẾT LUẬN

 Xuất phát từ mục tiêu luôn nâng cao chất lượng điều trị. Việc cập nhật và áp dụng một phương pháp điều trị mới cho gãy đầu dưới xương quay là cần thiết.

 Phương pháp xuyên kim qua khe gãy theo Kapandji đơn giản, có thể áp dụng được ở các tuyến cơ sở và nó có thể khắc phục được những nhược điểm của phương pháp nắn và bó bột kinh điển. Cụ thể là hạn chế được di lệch thứ phát, phục hồi cơ năng cao, giúp bệnh nhân sớm trở lại công việc hàng ngày.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.        Castaing J: Les fractures recentes de l’extrémité inférieure du radius chez l’adulte. Revue de chirurgie Orthopédique. 50. 672-690. 1964.

2.        Epinette AJ: Fracture du Pouteau-Colles: double embrochage intra-focal selon Kapandji. Annale de chirugie de la main. 1. 71-83. 1982.

3.        Nguyễn Phương Hồng: Kết quả điều trị chỉnh hình gãy đầu dứơi xương quay ở ngừơi lớn tại bệnh viện Việt -Ðức. Tiểu luận tốt nghiệp nội trú. 1982.

4.         Kapandji A: L’embrochage intra-focal des fractures de l’extrémité inferieure du radius dix ans afrès. Annale de chirurgie de la main6. 57-63. 1987.

5.        Kapandji A: L’articulation radio-cubitaleinférieure anatomie fonctionnelle. Le poignet. 42-52. 1980.

6.        Kapandji A: Les broches intra-focales à "effet de reduction" de type "ARUM" dans l’osthéosynthese des fractures de l’extrémité inférieure du radius. Annale de chirurgie de la main. 10. 138-145. 1991.

7.        Ngô Bảo Khang: Gãy và trật khớp vùng cổ tay. Bài giảng bệnh học ngọai tập5. 141-146. 1989.

8.         Nguyễn Quang Long: Triệu chứng học cơ quan vận động. 25-33. 1988.

9.        Nguyễn Quang Long: Ðiều trị gãy đầu dứơi xương quay bằng khung cải tiến. Tập san ngọai khoa. 143-147. 1983.

10.     Nguyễn Quang Long: Gãy đầu dứơi xương quay. Kỹ thuật điều trị gãy xương (sách dịch từ Boehler) 231-244. 1980.

11.     Mortier JP: Brochage horizontal cubio-radius dans les fractures de l’extrémité inférieure du radius comportant un fragment postéro-interne. Revue de chirurgie Orthopédique. 72. 567-571. 1986.

12.     Rossi M. Apport de l’embrochage intra-focal selon Kapandji dans les fractures du radius distal. Medicine et Hygiene. 46. 1717-1722. 1988.

13.     TỔ BỘ MÔN CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH Bệnh viện Bình Dân. Gãy xương chi trên. 1983