BÀN LUẬN

Số liệu trong hai năm (1995 - 1996) cho chúng ta những dữ liệu về mô hình của ung thư vú tại thành phố Hồ Chí Minh, sự phân bố theo địa dư, và một số đặc điểm dịch tễ học. Cần lưu ý đến các yếu tố sai lệch ảnh hưởng đến chất lượng của số liệu, số liệu được ước tính thấp hơn so với thực tế, như nguồn cung cấp số liệu không đầy đủ, tiêu chuẩn chẩn đoán ung thư ở các bệnh viện khác nhau, thu thập số liệu không chính xác...

Trong phần bàn luận này, các số liệu được so sánh với các số liệu của ghi nhận ung thư trong nước (Hà nội, 1993) và các nước Ðông Nam Á cũng như một số nước trên thế giới.

Về phân bố địa lý và xuất độ

Trung tâm Ung Bướu (372 ca, 69,8%), bệnh viện Nhân Dân Gia Ðịnh (37 ca, 7,3%) cũng như bệnh viện Chợ Rẫy và An Bình (22 ca, 4,1%) (Bảng 1) là nơi tiếp nhận và điều trị chủ yếu các ung thư vú tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, trong 18 quận, huyện tại thành phố Hồ Chí Minh, quận 5 tập trung nhiều ung thư vú nhất (CR = 16,6), kế đến là các quận 11 (CR = 15,6), quận 6 (CR = 15,6). Sự phân bố theo vị trí địa lý này cần thiết cho chương trình tầm soát ung thư vú tại thành phố Hồ Chí Minh.

Khoảng tuổi thường gặp nhất là 45 - 54 tuổi (27,2%), dưới 34 tuổi chỉ chiếm tỉ lệ 4,9%. Ðiều này phù hợp với các nghiên cứu của Nguyễn Chấn Hùng(2) và các tác giả khác(7,8).

Ðiều đáng lưu ý là xuất độ chuẩn tuổi (ASR) của ung thư vú ở nữ giới thành phố Hồ Chí Minh rất thấp nếu so sánh với dữ liệu trên thế giới cũng như trong vùng. Trong khi đó, ung thư cổ tử cung lại đứng hàng thứ 9 trên thế giới(3,5,6,9,11). Xuất độ của ung thư vú có thể được xem như thấp nhất trên thế giới (Bảng 9) cũng như trong khu vực (Bảng 10). Người Việt Nam sống tại Los Angeles (Mỹ) (PIR = 0,53), tại Anh (SIR = 0,54), Úc (SIR = 0,48) và Pháp (OR = 0,6) cũng có xuất độ thấp hơn so với dân địa phương(6).

Ðường biểu diễn của xuất độ đặc trưng theo tuổi (Age-specific Incidence Rate) (Hình 1) là đặc trưng của các nước đang phát triển, tăng dần đạt đỉnh cao tại 45 - 49 tuổi (tuổi quanh mãn kinh), sau đó giảm nhẹ. Ðây là kết quả của ảnh hưởng cohort (cohort effects) (Moolgavka, 1979) (6,9,10).

Về các yếu tố nguy cơ

Bảng 4 cho thấy sự phân bố ung thư theo số lần lập gia đình (số đời chồng). Phụ nữ độc thân chiếm tỉ lệ cao (66,6%), có 1 đời chồng chiếm tỉ lệ 32,2%, phù hợp với các nghiên cứu của các tác giả khác trong nước (2,7,8).

Mối liên hệ giữa tiền căn sản khoa (reproductive history) và ung thư vú đã được chứng minh qua nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới. Nghiên cứu ca - đối chứng của Jian-Min Yuan (1988) cũng như của Lambe (1998) (1) cho thấy nguy cơ mắc ung thư vú (sau khi đã hiệu chỉnh loại trừ ảnh hưởng qua lại giữa các yếu tố nguy cơ khác) đã giảm 30 - 35 % ở những bà mẹ có số lần sanh con trung bình >= 3 con. Số lần sanh con trung bình trong nghiên cứu này là 3,13 (Bảng 5) có thể được xem như yếu tố bảo vệ của ung thư vú tại thành phố Hồ Chí Minh.

Ðộ tuổi sanh con đầu lòng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với ung thư vú. Ðộ tuổi càng tăng, nguy cơ mắc ung thư vú càng nhiều. Sau 29 tuổi, nguy cơ mắc ung thư vú đã tăng gần gấp 3 lần so với lứa tuổi dưới 20. Trong khi đó, ở độ tuổi 20 - 24 (độ tuổi trung bình khi sanh con đầu lòng tại thành phố Hồ Chí Minh là 24,90 (Bảng 6)) lại không làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh.

Trong nghiên cứu này, tuổi trung bình lúc có kinh nguyệt đầu là 15,26 tuổi (Bảng 7). Jian-Min Yuan đã chứng minh ở độ tuổi 15, nguy cơ mắc ung thư vú tăng 80%, độ tuổi càng nhỏ thì nguy cơ mắc bệnh càng tăng (<= 12 tuổi, nguy cơ mắc bệnh tăng gấp 2 lần). Cũng theo tác giả trên, độ tuổi lúc mãn kinh không làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú (P phương trình hồi qui = 0,20) (ở độ tuổi 45 -49 tuổi, OR = 1,0 (trong nghiên cứu này, độ tuổi trung bình lúc mãn kinh là 48,8 tuổi)). Tuy nhiên, một số tác giả khác lại cho rằng các tiền căn kinh nguyệt (độ tuổi lúc có kinh đầu, độ tuổi mãn kinh) có mối tương quan yếu với các tiền căn sản khoa(1,13).

KẾT LUẬN

Ung thư vú ở nữ giới là bệnh lý ác tính có xuất độ cao tại thành phố Hồ Chí Minh, đứng hàng thứ nhì ở phái nữ sau ung thư cổ tử cung và hàng thứ 5 chung cho hai giới. Tuy nhiên xuất độ chuẩn tuổi của loại bệnh lý này thấp so với Hà nội, các nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Các yếu tố nguy cơ như sanh đẻ nhiều, độ tuổi sanh con đầu lòng, chậm có kinh nguyệt. đã giải thích phần nào xuất độ thấp của ung thư vú tại thành phố Hồ Chí Minh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.        Lame M. et al.: Parity, age at first birth and the risk of carcinoma in situ of the breast cancer. Int. J. Cancer: 77, 330-332, 1998

2.        Nguyễn Chấn Hùng và cs.: Ung thư học lâm sàng, Ðại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, 1982, 1986

3.        Nguyễn Chấn Hùng và cs.,: Xây dựng chiến lược phòng chống ung thư cho thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, số đặc biệt chuyên đề ung thư, 1998

4.        Nguyễn Chấn Hùng, Nguyễn Bá Ðức: Xây dựng chiến lược quốc gia phòng chống ung thư. Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, số đặc biệt chuyên đề ung thư, 1997

5.        Nguyễn Chấn Hùng, Nguyễn Mạnh Quốc và cs.,: Kết quả ghi nhận ung thư quần thể tại thành phố Hồ Chí Minh. 1997: Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, số đặc biệt chuyên đề ung thư, 1998

6.        Nguyễn Mạnh Quốc, Nguyễn Chấn Hùng, Parkin DM: Cancer Incidence in Ho Chi Minh City, Viet Nam. 1995 - 1996. Int. J. Cancer, 76:472-479, 1998

7.        Nguyễn Sào Trung: Bệnh học các tạng và hệ thống. Nhà xuất bản Y học TP. Hồ Chí Minh, 325-354, 1994

8.        Nguyễn Sào Trung, Nguyễn Chấn Hùng: Bướu và các tổn thương dạng bướu của vú. Bệnh học ung bướu cơ bản. Trung tâm Ðào tạo và Bồi dưỡng Cán bộ Y tế, 191-208, 1992

9.        Parkin DM, Muir CS et al.: Cancer Incidence in five continents, Vol. VI, IARC Scientific Publications, No. 120 Lyon, 1992

10.     Parkin, DM: Cancer Occurrence in developing countries. IARC Scientific Publications, No. 75, Lyon, 1986

11.     Phạm Thị Hoàng Anh, Parkin DM và cs.: Ung thư ở người Hà nội, Việt Nam, 1988 - 1990. Br. J. Cancer, 68:1236-1242, 1993

12.     Số liệu các loại ung thư của 25 Trung tâm, bệnh viện tại TP. Hồ Chí Minh, 1995 - 1996

13.     UICC: Manual of Clinical Oncology, 6th edition, Springer-Verlag, 1994