@ Ðột biến dạng không kích hoạt của gien GS-a trong tế bào mầm: giảm biểu hiện hoặc chức năng của Ga protein, hậu quả là mô đề kháng nhiều nội tiết tố, ví dụ bệnh loạn dưỡng di truyền Albright do kháng PTH (Albright's hereditary osteodystrophy, bệnh loạn dưỡng do thận - renal osteodystrophy hoặc bệnh giả suy tuyến cận giáp- pseudohypoparathyroidism).
@ Ðột biến dạng kích hoạt của gien GS-a chỉ ở các tế bào mang bệnh: tăng chức năng của Ga protein, làm gián đoạn hoạt động GTPase của chuỗi a , kích thích adenyl cyclase, hậu quả gây tăng sinh tế bào độc lập:
* Trễ: phân bổ các gien độc GS- a protein hạn chế, tạo ra các tổn thương đơn độc (loạn sản sợi một xương, u tuyến giáp, u tuyến yên...). Những tổn thương xương đơn độc khác có lâm sàng và giải phẫu bệnh giống loạn sản sợi là u lành sợi hóa xương (còn gọi bệnh loạn sản sợi-xương, osteofibrous dysplasia) hoặc bệnh u sợi tấn công (agressive fibromatosis) không có đột biến gien.
*Sớm: gây ra khảm lan rộng, thấy trong một số rối loạn nội tiết bao gồm cả hội chứng Mc Cune-Albright.
Các rối loạn bệnh học phân tử khác:
@ Tăng c- fos oncoprotein trong mô loạn sản sợi
@ Thay đổi cấu trúc đơn dòng ở nhiễm sắc thể số 3, 8, 10, 12 và 15 cho thấy loạn sản sợi là khối tân sinh do đột biến ở trung mô tạo xương.
@ Khiếm khuyết ở nhiễm sắc thể 9q37. 3 quan sát thấy ở nhiều bệnh nhân McCune-Albright.
Mặc dù không có tổn thương nào mới xuất hiện ở tuổi trưởng thành, các xương bệnh có thể bị biến dạng từ từ do xương bị yếu. Trong những trường hợp khác, một tổn thương xương vốn không có triệu chứng nay đột nhiên bị đau và được phát hiện, thường ở tuổi từ 10-30. Trên phim X-quang thường thấy hình ảnh hủy xương dạng kính mờ.

Hình 2: Hình ảnh X quang xương
đùi trong bệnh loạn sản sợi, dạng "gậy chăn cừu".
Diễn tiến chủ yếu của các tổn thương xương là bị gãy xương bệnh lý (85%) và 40% bệnh nhân bị gãy trên 3 lần trong cuộc đời(14). Các gãy xương nầy lành trong thời hạn bình thường(4,9,11,12,14).
Các gãy xương vi thể, gãy xương "mệt" sẽ lành nhưng làm cong thân xương từ từ và biến dạng nầy lại là tiền đề cho một gãy xương mới. Hậu quả cuối cùng là chi có thể bị biến dạng một cách kỳ quái và bị ngắn đi,hay gặp nhất là biến dạng "gậy chăn cừu" (shepherd's crook) ở phần gần của xương đùi (Hình 2) và biến dạng "lưỡi gươm cong" (saber shin) ở thân xương chày .
Ở một số tổn thương có đau hoặc gia tăng kích thước là do hiện tượng thoái hóa bọc hoặc xuất huyết. Ðiều nầy hay gặp ở xương sườn.
Ở xương sọ mặt, các tổn thương khi phát triển thường gây ra biến chứng như chèn ép hành tủy gây chết người; biến dạng hốc mắt gây lệch nhãn cầu, làm khuôn mặt mất cân đối và nhất là chèn ép thần kinh thị giác gây mù lòa(11,14). Ngoài ra, có những trường hợp gây điếc, chèn ép tuyến não thùy gây rối loạn nội tiết do dày vách hố yên.
Tuy nhiên nói chung bệnh diễn tiến lành tính một thời gian rất dài nếu tổn thương không ảnh hưởng đến các cơ quan sinh tồn.
Bệnh thường không triệu chứng, phát hiện tình cờ. Tổn thương phát triển cùng với bộ xương. Khi tốc độ phát triển của loạn sản sợi nhanh hơn thì sẽ làm vỏ xương phình ra. Ða số (95%) bệnh tự ổn định sau khi trưởng thành, tổn thương không lớn lên nữa và cũng tái tạo mẫu những bè xương loạn sản(2,4,12,14).
Bệnh nặng hơn với tổn thương nhiều nơi và lan rộng, gây nhiều triệu chứng và biến chứng. Bệnh thường phát hiện sớm dưới 10 tuổi. Tổn thương tiếp tục lớn thêm sau khi bộ xương đã trưởng thành.
Dự hậu của bệnh phụ thuộc vào:
- kích thước, sự lan rộng của tổn thương vào thời điểm chẩn đoán bệnh
- vị trí tổn thương
- số lượng tổn thương
- thời điểm khám phá bệnh sớm hay muộn: nếu sớm thì dự hậu xấu.
Hóa ác một tổn thương loạn sản sợi của xương có xảy ra tuy hiếm gặp, tỷ lệ từ 0,5-3%(2,4,11,14). Tỷ lệ nầy có thể cao hơn vì nhiều trường hợp bị bỏ sót chẩn đoán loạn sản sợi bên cạnh một ung thư.. Sự hóa ác thường xảy ra ở thể bệnh nhiều xương và chỉ ở một vị trí (xương sọ hoặc mặt trong thể bệnh một xương và xương đùi ở thể nhiều xương).
Sự hóa ác xảy ra vào tuổi trưởng thành ở tổn thương đã tiến triển hơn 13 năm và tái hoạt động nhiều lần (hủy xương, đau, gãy xương...).
Loạn sản sợi hóa ác đa số thành sarcom tạo xương, kế đến là bướu ác mô bào sợi, sarcom sợi, sarcom sụn, sarcom đại bào... Bướu ác liên hệ chặt chẽ với vỏ xương, phát triển ra ngoài, rất ít vào tủy. Xạ trị thường gây biến chứng nầy. Tiến triển của bệnh tùy thuộc loại sarcom.
Không có điều trị đặc hiệu đối với bệnh loạn sản sợi của xương(2,4,5,6,9,11,12,14). Việc điều trị thường nhằm giải quyết các tổn thương xương và tùy theo thể bệnh một hoặc nhiều xương. Hầu như không có điều trị gì đối với các tổn thương da hoặc tình trạng dậy thì sớm.
@ Rất nhiều tổn thương được phát hiện tình cờ bằng X-quang và không gây triệu chứng. Thể bệnh nầy không có nguy cơ gây gãy xương bệnh lý hoặc biến dạng hay tàn tật và vì vậy chỉ cần theo dõi.
@ Ðôi khi, tổn thương giống với của bệnh khác nên cần phải sinh thiết để xác định chẩn đoán và sau đó không cần điều trị gì.
@ Ðiều trị chủ động bằng phẫu thuật. Cần nhắc nhở là cấm không được xạ trị tổn thương ở xương. Hóa trị không có kết quả.Phẫu trị được chỉ định nhằm phòng ngừa hoặc sửa các biến dạng,phòng ngừa hoặc điều trị gãy xương bệnh lý và/ hoặc lấy bỏ tổn thương gây triệu chứng hoặc tàn tật.
Ða số không gây triệu chứng và tự ổn định. Vì vậy thường không điều trị gì. Tuy nhiên, một số trường hợp bệnh gây đau, yếu xương, đe dọa hoặc bị gãy xương bệnh lý thì cần điều trị và phải làm sinh thiết trước:
(1) Tổn thương nhỏ: nạo + ghép xương vụn (tự thân,đồng loại).
(2) Tổn thương ở xương sườn: cắt bỏ đoạn xương sườn bị bệnh
(3) Tổn thương lớn hoặc ở chi dưới: nạo + ghép xương vỏ (tự thân, đồng loại). Có thể ghép xương xốp-vỏ hoặc nếu xương yếu thì kết hợp xương thêm.
(4) Gãy xương bệnh lý: có thể điều trị đạt kết quả bằng các phương pháp bảo tồn (nẹp, bột) hoặc kết hợp xương. Thời gian lành xương giống như bình thường nhưng các can xương cũng bị loạn sản nên sau khi lành, tình trạng bệnh trở lại như cũ. Phương pháp ưa chuộng là ghép xương vỏ tự thân vì cho kết quả tốt hơn là ghép xương xốp hoặc kết hợp xương(2,4,9,11,12,14).