Nguyên nhân chấn thương

1/. Bệnh nhân té ngồi trên vật cứng như:

- Cây cứng: 25 trường hợp.

- Be ghe: 9 trường hợp.

2/. Nguyên nhân khác: 10 trường hợp.

- Bình xăng xe: 2

- Bàn đạp xe: 2

- Chân chống xe: 1

- Cản xe hơi: 1

-Cấn cục đá: 4

Triệu chứng khi đến nhập viện

Bệnh nhân nhập viện vì 3 triệu chứng chính: ra máu ở lỗ sáo, tụ máu ở tầng sinh môn và bí tiểu.

Trong đó 23 bệnh nhân (52,2%) có đủ 3 triệu chứng trên. 100% bệnh nhân có ra máu ở lỗ sáo. 18 bệnh nhân bị vỡ niệu đạo trước còn tiểu được nhưng tiểu khó và tiểu máu hoặc ra máu niệu đạo (40,9%).

 Thời gian mổ tạo hình niệu đạo

 Chúng tôi chia bệnh nhân thành 3 nhóm theo thời gian, tính từ lúc bị chấn thương đến lúc được mổ tạo hình:

Bệnh nhân được mổ từ ngày thứ 5 đến ngày thứ 14 sau chấn thương: 13 bệnh nhân.

Bệnh nhân được mổ từ ngày thứ 15 đến ngày thứ 24 sau chấn thương: 3 bệnh nhân.

Bệnh nhân được mổ từ sau chấn thương 1 tháng trở đi: 28 bệnh nhân.

Thời điểm mổ phụ thuộc vào thời gian nhập viện của bệnh nhân. Ngoài những bệnh nhân ở thành phố Hồ Chí Minh nhập viện ngay sau khi chấn thương, còn những bệnh nhân khác được giải quyết cấp cứu ở tuyến trước sau đó mới chuyển đến bệnh viện Chợ Rẫy.

Thương tổn niệu đạo ở các thời điểm khác nhau

- Trong khoảng thời gian từ ngày thứ 5 đến ngày thứ 14, đối với 13 bệnh nhân được mổ sớm, khi mổ chúng tôi nhận thấy:

Có 8 trường hợp niệu đạo bị dập vỡ hoàn toàn, hai đầu niệu đạo đứt rời.

+ Có 6 trường hợp, khi mổ tạo hình thấy niệu đạo hết chảy máu. Và 2 trường hợp vẫn ra máu lỗ sáo cho đến ngày tạo hình (ngày thứ 7 và ngày thứ 12), đồng thời khi mổ thấy niệu đạo còn chảy máu (Hai trường hợp này, chấn thương nặng có nhiều máu cục quanh niệu đạo).

+ Sự phân định giữa tổ chức lành và tổ chức hoại tử rõ ràng. Ðối với 3 trường hợp mổ trong khoảng ngày thứ 6 - 8, khi tách tổ chức hoại tử khỏi tổ chức lành khó khăn và dễ chảy máu.

+ Tổ chức dập nát và khối máu tụ chưa tổ chức hóa.

+ Sau khi lấy bỏ tổ chức dập nát, khâu nối hai đầu niệu đạo dễ dàng.

Có 5 trường hợp tụ máu tầng sinh môn ít, cân niệu đạo còn. Ðối với các trường hợp này, chúng tôi mở niệu đạo ra lấy tổ chức dập nát và khâu lại niệu đạo. Cũng như các trường hợp trên, niệu đạo đã tự cầm máu. Sự phân định giữa tổ chức lành và tổ chức dập nát rõ, nhưng bóc tách tổ chức dập nát ra khỏi mô lành khó và dễ chảy máu (Ðối với 4 trường hợp mổ vào ngày 6 - 9). Trường hợp còn lại mổ ngày thứ 12, thì lại tách tổ chức dập nát ra khỏi tổ chức lành dễ, không chảy máu.

Mổ từ ngày 15 - 24 sau chấn thương: có 3 bệnh nhân (1 ca được mổ ngày thứ 17, một ca mổ ngày 18 và một ca mổ ngày thứ 23), khi mổ chúng tôi nhận thấy như sau:

Ðối với 2 bệnh nhân mổ ngày thứ 17 và 18: Niệu đạo vỡ hoàn toàn, có nhiều máu cục xung quanh. Tổ chức dập nát và tổ chức lành phân định rõ, khi gỡ ít chảy máu. Tổ chức dập nát chưa tổ chức hóa nhưng khối máu cục và mô xung quanh đã bắt đầu tổ chức hóa. Sau khi cắt lọc, gỡ bỏ mô dập nát thì khâu hai đầu niệu đạo lại dễ dàng.

Ðối với bệnh nhân mổ ngày thứ 23: tổ chức dập nát bắt đầu xơ hóa, không phân định rõ với mô lành, khi gỡ cũng khó khăn và dễ chảy máu. Do đó, phải cắt bỏ mô xơ mới nối 2 đầu niệu đạo được.

Ngoài ra, có 28 bệnh nhân được mổ tạo hình, sau khi chấn thương khoảng từ 1 tháng trở đi. Khi mổ những bệnh nhân này chúng tôi nhận thấy: Niệu đạo đã bị xơ hóa toàn bộ, có trường hợp hẹp hoàn toàn. Khi chụp niệu đạo - bàng quang ngược dòng, thuốc không lên được bàng quang. Khoảng niệu đạo hẹp dài từ 1cm đến 2,5cm. Niệu đạo dính nhiều với tổ chức xung quanh. Khi bóc tách tìm niệu đạo cũng khó khăn hơn vì máu tụ tầng sinh môn đã tổ chức hóa và rất dính. Do đó, muốn khâu trên tổ chức lành phải cắt bỏ đoạn niệu đạo xơ hẹp.

BÀN LUẬN

1/- Nhóm bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi có 23 bệnh nhân (52,2%) có đầy đủ 3 triệu chứng. 100% bệnh nhân có ra máu ở lỗ sáo, do đó đối với chúng tôi triệu chứng ra máu lỗ sáo được xem là triệu chứng trung thành nhất của dập vỡ niệu đạo trước. 18 bệnh nhân bị vỡ niệu đạo trước còn tiểu được nhưng tiểu khó và ra máu (40,9%). Chính vì bệnh nhân còn tiểu được nên cả bệnh nhân và thầy thuốc đều chủ quan không xử trí triệt để, cuối cùng tất cả bệnh nhân này đều nhập viện trở lại vì biến chứng hẹp niệu đạo và phải mổ tạo hình.

2/. Ðối với những bệnh nhân vỡ niệu đạo không hoàn toàn, một số tác giả(4,5,11) không xử trí gì, hoặc chỉ giải quyết nong niệu đạo hay cắt đốt nội soi khi có biến chứng hẹp niệu đạo. Nhưng trong loạt nghiên cứu này, chúng tôi đã chủ động mở niệu đạo lấy tổ chức dập nát để tránh di chứng hẹp niệu đạo về sau.

3/. Quan sát trong khi mổ chúng tôi nhận thấy như sau: Ngày thứ 6 đến ngày thứ 9, tổ chức dập nát và tổ chức lành phân định rõ, hết chảy máu. Nhưng việc lấy tổ chức dập nát ra khỏi mô lành còn khó khăn, dễ chảy máu. Mổ từ ngày thứ 10 đến ngày thứ 18 (nhất là từ ngày 12), thương tổn niệu đạo đã cầm máu, tổ chức hoại tử và tổ chức lành phân định rõ, lấy dễ dàng ít chảy máu. Khâu nối niệu đạo cũng thuận lợi. Nhưng chúng tôi cũng ghi nhận, hai trường hợp được mổ vào khoảng ngày thứ 17 -18, khối máu tụ đã tổ chức hóa. Mổ quá ngày 21, tổ chức dập nát bắt đầu tổ chức hóa thành mô xơ, khi mổ khó lấy được tổ chức dập nát, dễ chảy máu, chỉ có thể cắt bỏ đoạn hẹp, nối 2 đầu niệu đạo tận - tận. Do đó thời điểm thuận lợi nhất để mổ tạo hình trong dập vỡ niệu đạo trước do chấn thương đối với chúng tôi là từ ngày thứ 12 - 17 ngày. Tuy nhiên, vì số lượng bệnh hạn chế và cũng trong thời gian còn nghiên cứu, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu thêm để tìm thời điểm tối ưu cho việc mổ tạo hình niệu đạo trước.

KẾT LUẬN

Dập vỡ niệu đạo trước là một cấp cứu niệu khoa thường gặp. Tuy nhiên mổ vào thời điểm nào và cách xử trí ra sao vẫn còn là đề tài hấp dẫn của các nhà niệu khoa trong và ngoài nước. Việc xử trí đúng, kịp thời là cần thiết, trong đó quan trọng nhất là chọn thời điểm tối ưu để tạo hình niệu đạo. Nếu chọn đúng thời điểm, chúng ta sẽ giải quyết thương tổn được dễ dàng, triệt để, giảm tỷ lệ tử vong và đem lại chất lượng cao cho cuộc sống bệnh nhân. Trong nghiên cứu này, bước đầu chúng tôi giới thiệu thời điểm thuận lợi để mổ tạo hình niệu đạo. Theo thống kê của chúng tôi, thời điểm đó là từ ngày thứ 12 đến ngày thứ 17. Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu để làm rõ vấn đề trên.

TÀI LIỆU THAM KHẢO.

1.        Blandy J: The urethra. Lecture notes on Urology, 3rd Ed, Blackwell Scientific Publication, 1982.

2.        Delesé B et al: Traitement des ruptures traumatiques l’urètre. Ann Urol 1990. 24 (2), 161-164.

3.        Jackson DH; Williams JL: Urethral injury - A retrospective study. British journal of Urology. 46, 1974: 665-676.

4.        Marberger H, Turner-Warwick R.: Traumatic lesions of the urethra -Immediate and delayed treament. Round table discussion. Eur Urol. 1 (1), 1975: 3-13.

5.        Tanagho EA., McAninch JW: Injuries to the Urethra. A Smith’s general urology. 12th Ed, Lange medical publications. 1988, 310 - 313..

6.        Trifa M; Njeh M; Bahloul A; Jemal S; Mhiri MN: Les ruptures traumatiques de l’urèthre antérieur. A propos de 18 cas. Ann Urol 31 (5); 1997: 313-317.

7.        Nguyễn Ngọc Hiền: Nhận xét 64 trường hợp chấn thương niệu đạo điều trị tại bệnh viện Phú Khánh. Báo Ngoại khoa 1984, tập IX số 6, 186 - 188.

8.         Trần Ðức Hòe: Ðặc điểm lâm sàng và công tác điều trị những tổn thương niệu đạo ở quân y viện 108 trong các năm chống Mỹ. Báo Ngoại khoa 1978, tập IV, số 6, 182 - 188.

9.        Nguyễn Phương Hồng: Vai trò của phẫu thuật cắt nối niệu đạo ngay từ đầu trong điều trị đứt niệu đạo hành do chấn thương.. Báo Ngoại khoa 1997, tập XXII, số 4, 29 - 36.

10.      Ngô Gia Hy: Giập vỡ niệu đạo. Cấp cứu niệu khoa, tập 1. Nhà xuất bản y học 1988. 159-184.

11.      Ngô Gia Hy: Giập vỡ niệu đạo. Chẩn đoán và điều trị. Tổng quan và chuyên khảo ngắn y dược số 26. Viện thông tin - Thư viện y học trung ương 1986. 29-36.

12.      Ngô Gia Hy: Kết quả giải phẫu tạo hình niệu đạo qua kinh nghiệm 202 ca hẹp niệu đạo. Báo Ngoại khoa 1979, tập VII, số 5, 138 - 146.

13.     Trần Văn Sáng: Phẫu thuật tạo hình niệu đạo. Luận văn bác sĩ, đại học Y Khoa Hà Nội, 1956.

14.      Trần Văn Sáng: Vỡ niệu đạo trước. Bài giảng bệnh học niệu khoa. Nhà xuất bản Cà Mau 1996, 54-60.

15.     Nguyễn Bửu Triều, Võ Ðức Quê: Những kết quả và kinh nghiệm bước đầu điều trị phẫu thuật cho 236 bệnh nhân hẹp niệu đạo trước ở Bệnh viện Việt Ðức. Báo Ngoại khoa1982, tập X, số 1.

16.     Lê Ngọc Từ: Chấn thương niệu đạo. Bệnh học tiết niệu. Nhà xuất bản y học, Hà Nội 1995: tr 158-167.