Tomita và cs.(23): các yếu tố tiên lượng có ý nghĩa là kích thước u, hình dạng đại thể tăng trưởng, xâm lấn mô mỡ và hạch bạch huyết quanh thận, di căn xa, xâm lấn tĩnh mạch và grade của u, nhất là xâm lấn hạch bạch huyết và di căn xa (P< 0. 001).
G. Bannos và cs.(1) dùng phân loại grade của Furhman để so sánh giá trị tiên lượng của phép đo kích thước nhân (nuclear morphometry). Tác giả nhận thấy sống còn khác biệt có ý nghĩa giữa grade cao (G3-4) và grade thấp (G1-2) và kết luận rằng dù nuclear morphometry là một yếu tố tiên lượng tốt trong carcinom thận nhưng ít góp phần vào việc đánh giá grade của nhân.
Do việc đánh giá grade tương đối chủ quan và khó phân biệt giữa grade 2 và 3, một số nghiên cứu đã thử cố gắng tìm một phương pháp khách quan hơn và có thể dự đoán chính xác kết quả điều trị. Vẫn còn ít nghiên cứu về nuclear morphometry và DNA nhưng những kết quả sớm cho thấy phương pháp này có nhiều hứa hẹn(22, 23).
Tosi nghiên cứu giá trị của nuclear morphometry ở 41 bệnh nhân giai đoạn 1, theo dõi tối thiểu 5 năm. Ðánh giá diện tích nhân (nuclear area), độ e-lip nhân (nuclear ellipsoidity), và sự đều đặn của viền nhân (regularity of the nuclear boundary), tác giả thấy rằng diện tích trung bình của nhân là yếu tố tốt để đánh giá tiên lượng. Nếu diện tích trung bình của nhân < 32mm2 thì không có bệnh nhân nào chết trong vòng 5 năm vì ung thư thận. Nuclear ellisoidity và nuclear regularity không giúp ích gì.
Bibbo nghiên cứu về chiều dài nhân, độ tròn (roundness), diện tích, và hiện tượng chen chúc (crowding); grade, và mật độ gián phân (mitotic density) nhận thấy bệnh nhân có grade cao, u có mật độ gián phân nhiều hay kéo dài, nhân chen chúc sẽ có xu hướng tử vong do di căn. Hơn nữa, diện tích nhân trung bình là 39,19 ± 17,81mm2 ở bệnh nhân sống hơn 5 năm so với 56,96 ± 18,17mm2 ở bệnh nhân chết trước 5 năm.
Các nghiên cứu về phép đo nhân còn chưa nhiều và cần có những nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn để đánh giá giá trị của phương pháp này.
Phân tích thành phần DNA của u bằng cách đo dòng tế bào (flow cytometry) đã được nghiên cứu trong bệnh carcinom thận từ 1982. Flow cytometry là phương pháp xét nghiệm dịch treo tế bào để xác định thành phần của DNA. Các mẫu xét nghiệm được đặc trưng bởi diploid (là thành phần DNA bình thường) hay aneuploid (thành phần DNA gia tăng bất thường) và được phân tích bằng những biểu đồ DNA(23).
Chin và cs. Nghiên cứu ở 50 bệnh nhân, có 44 người ở giai đoạn III hay IV. Tác giả báo cáo tỉ lệ aneuploid là 74%, và nếu ở giai đoạn III-IV là 77%. Tỉ lệ u có aneuploid không khác nhau giữa type tế bào sáng và tế bào hạt, giữa nguyên phát và thứ phát, hay giữa giai đoạn III và giai đoạn IV. Tác giả kết luận rằng khác biệt sống còn không đáng kể giữa u diploid và u aneuploid.
Rainwater và cs (206 mẫu): ploidy liên quan đến tiến triển của u và sống còn. 18% bệnh nhân u diploid có di căn, trong khi 37% bệnh nhân u aneuploid/tetraploid có di căn. Bệnh nhân u diploid sống còn 5 năm là 82% và sống còn 10 năm là 62%, trong khi ở những bệnh nhân aneuploid/tetraploid tỉ lệ này là 62% và 37%. Tuy nhiên những tính toán này chỉ được tiến hành phân tích đơn giá không phải là đa giá.
Kết luận: Phân tích thành phần DNA của tế bào u: còn ít nghiên cứu, số liệu ít bệnh nhân, không lưu ý đến giai đoạn và grade, hơn nữa carcinom tế bào thận là u không đồng nhất nên việc lấy ít mẫu không đại diện hết cho cả u, cuối cùng flow cytometry là phương pháp đắt tiền, do đó nghiên cứu giai đoạn và grade tế bào vẫn còn vai trò quan trọng để đánh giá tiên lượng ung thư thận(23).
Cuối cùng là các nghiên cứu đánh giá giá trị tiên lượng của tuổi, chủng tộc và giới tính, một số triệu chứng của bệnh nhân carcinom thận.
Castellanos báo cáo tỉ lệ sống còn ở 84 trẻ em carcinom thận: 5 năm là 56%, 10 năm là 50%.
Raney: Tuổi < 11 có thể là yếu tố tiên lượng thuận lợi. Ngược lại Lack, Lieber không cho rằng tuổi trẻ là yếu tố tiên lượng tốt và nhìn chung tiên lượng ở trẻ em không khác gì tiên lượng ở người trưởng thành.
Nhiều nghiên cứu nhận thấy chủng tộc không ảnh hưởng đến tiên lượng của bệnh nhân, nhưng ảnh hưởng của giới tính lại gây nhiều tranh luận hơn(22).
Ljungberg, Green: khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa hai giới. Có những nghiên cứu rộng lớn hơn và sử dụng phân tích đa giá để đánh giá yếu tố tiên lượng: Selli, Nurmi: giới nam không ảnh hưởng xấu đến tiên lượng (115 nam, 257 nữ). Ngược lại có hai nghiên cứu ghi nhận tiên lượng xấu ở bệnh nhân nam so với bệnh nhân nữ:
Lieber (n=89): nam có tỉ lệ sống còn thấp hơn nữ (P=0,06). Tuy nhiên bệnh nhân nam có xu hướng vào viện ở giai đoạn tiến triển muộn ở giai đoạn II-IV so với nữ. Khi tiến hành phân tích đa giá các dữ liệu này có kể đến khác biệt về giai đoạn, thì không thấy khác biệt về sống còn giữa hai giới.
Mc Nichols, khi nghiên cứu ở 177 bệnh nhân nữ và 323 bệnh nhân nam, có tính đến giai đoạn và grade vẫn nhận thấy bệnh nhân nữ có tỉ lệ sống còn tốt hơn bệnh nhân nam. Tính chung mọi giai đoạn và grade: sống còn 5 năm là 55% và 40% (P<0,001), sống còn 10 năm là 41% và 27% (P<0,001). Sống còn tốt nhất ở bệnh nhân nữ có u giai đoạn 1, grade 1(15).
Những dữ kiện này cho thấy phần lớn khác biệt sống còn giữa hai giới có liên quan đến khác biệt về giai đoạn và grade của u thận.
Một số tác giả cho rằng không có ảnh hưởng đến sống còn, một số khác cho rằng vài triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng có ý nghĩa tiên lượng. Vài nghiên cứu nhận thấy sút cân là yếu tố tiên lượng đáng ngại. Một số báo cáo tăng canxi huyết, tiểu máu vi thể, tăng haptoglobin máu và tăng vận tốc lắng máu là yếu tố tiên lượng xấu. Các triệu chứng này thường chỉ là xác nhận giai đoạn tiến triển muộn của bệnh.
Sự xâm lấn tại chỗ của carcinom tế bào thận vào thời điểm phẫu thuật là yếu tố quan trọng nhất để đánh giá sống còn. Các yếu tố tiên lượng tốt: u xâm lấn mỡ quanh thận, di căn hạch và di căn xa. Grade của nhân và type tế bào u cũng được xem là những yếu tố tiên lượng có giá trị. Phép đo nhân và thành phần DNA của tế bào u có thể đóng vai trò quan trọng hơn trong tương lai.
1. BANNOS GJL; MARTIN-GARCIA B; HERNANDEZ RR; PORTILLO MJA; CORREAS GMA; DEL-VALLE SJI; ROCA EAA; VEGA VA; VILLANUEVA P: Nuclear area versus nuclear grade in the prognosis of renal carcinoma. Long-term results, Actas-Urol-Esp. 1996 Oct; 20(9): 794-9.
2.
BENNINGTON JL, BRUCE BJ: Renal carcinoma- Tumors of the kidney, renal
pelvis, and ureter- second series, fascicle 12- Atlas of tumor pathology, pp.
93-193.
3. DELAHUNT B, BETHWAITE P, NACEY JN: Renal cell carcinoma in New Zealand: Adenocarcinoma national survival study, Urology, Vol 43, N0 3, March 1994, 300-309.
4. FLEISCHMANN J, NKRUMAH HH: Renal tumors- Clinical Urology, edited by Robert J. Krane, Mike B. Siroky, John M. Fitzpatrick. J. B. Lippincott Company, Philadelphia 1994, 359-373.
5. FLEISCHMANN J, NKRUMAH HH: Renal tumors, Clinical Urology, edited by Robert J. Krane, Mike B. Siroky, and John M. Fitzpatrick. J. B. Lippincott Company, Philadelphia, 1994, 359-398. .
6. GARNICK MB, JEROME PR: Renal neoplasia, The Kidney, edited by Barry M. Brenner, 5th. Edition, Vol II, 1996, 1959-1976.
7.
GIBERTI C; ONETO F; MARTORANA G; ROVIDA S; CARMIGNANI G TI: Radical
nephrectomy for renal cell carcinoma:
long-term results and prognostic factors on a series of 328 cases. Eur-Urol.
1997; 31(1): 40-8.
8. GIULIANI L, GIBERTI C, MARTORANA G, et al: Radical extensive surgery for renal cell carcinoma: Long- term results and prognostic factors. J Urol 143: 468, 1990.
9. GOLIMBU M, JOSHI P, SPERBER A: Renal cell carcinoma: survival and prognostic factors, Urology, 27, 291, 1986.
10.
GOSPODAROWICS MK. : Ung thư thận -Cẩm nang ung u học lâm
sàng. Người dịch: Trần chánh Khương, Nguyễn viết Ðạt, Mai hồng
Hoàng. UICC Geneva, lần xuất bản thứ sáu, 1994, pp. 599-610.
11. JACQMIN D: Facteurs pronostiques du cancer du rein, Viatique de Néphrologie et d’Urologie, -Journées scientifiques de Néphrologie et d’Urologie Franco-Vietnamiennes, Novembre 1994, 489-497.
12. LINEHAN MW, SHIPLEY WU, LONGO DL: Cancer of the Kidney and ureter, Cancer: Principles and Practice of oncology, J. B. Lippincott Company, 3rd edition, Vol 1, 1989, 979-1000.
13. MANI S, TODD MB, KATZ K, POO WP: Prognostic factors for survival in patients with metastatic renal cancer treated with biological response modifiers, J Urol, Vol. 154, July 1995, 35 - 40.
14.
MATTOS-RM; LIBERTINO-JA: Survival of patients with
renal cell carcinoma invading the inferior vena cava. Semin-Urol-Oncol. 1996
Nov; 14(4): 223-6.
15. MCNICHOLS DW, SEGURA JW., DE WEERD JH: Renal cell carcinoma: Long-term survival and late recurrence, J Urol. 126, 17, 1981.
16. MONTIE JE: Editorial: Prognostic factors for renal cell carcinoma, J Urol, Vol. 152, November 1994, 1397-1398.
17.
SANDOCK DS; SEFTEL-AD; RESNICK-MI: Adrenal
metastases from renal cell carcinoma: role of ipsilateral adrenalectomy and
definition of stage. Urology. 1997 Jan; 49(1):
28-31
18. SELLI C., HISHAW WM, WOODARD BH: Stratification of risk factors in renal cell carcinoma, Cancer, 52, 899, 1983.
19. SKINNER DG, COLVIN RB, VERMILLION CD: Diagnosis and management of renal cell carcinoma: Adenocarcinoma clinical and pathologic study of 309 cases, Cancer, 28, 1165, 1971.
20. SRIDHAR M., TODD MB, KATZ K, POO WJ: Prognostic factors for survival in patients with metastatic renal cancer treated with biological response modifiers, J Urol, Vol. 154, July 1995, 35-40.
21. STEINBACH F, STOCKLE M , GRIESINGER A, STORKEL S, STEIN R, MILLER DP, HOHENFELLNER R: Multifocal renal cell tumors: A retrospective analysis of 56 patients treated with radical nephrectomy. J Urol, Vol. 152, 1393-1396, November 1994.
22.
THRASHER BJ , PAULSON DF: Prognostic factors
in renal cancer- Kidney tumors- Urologic clinics of North America, Vol 20,
No2, May 1993, pp. 247-261. .
23.
Tomita K; Okui-N; Kimura-A;
Kawamura-T; Teshima-S; Itami-M: Prognostic significance of
histopathological findings (including
lymphocyte infiltration) in renal cell carcinoma- Hinyokika-Kiyo. 1996 Dec; 42(12): 925-30
24. Williams JH; Frazier-HA-2nd; Gawith-KE; Laskin-WB; Christenson-PJ Transitional cell carcinoma of the kidney with tumor chồi u into the vena cava. Urology. 1996 Dec; 48(6): 932-5.