Trong nghiên cứu Parameshar, thực hiện trên 30204 người sống tại phía tây bắc Luân Ðôn tỷ lệ này là 3, 9 %0, nếu tính theo tuổi tỷ lệ này là 0, 6%0 ở tuổi dưới 65 và 28%0 ở tuổi trên 65(4).
Một báo cáo khác của Ủy ban nghiên cứu y khoa tại Scotland cho thấy tỷ lệ hiện mắc suy tim trên bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng kèm giảm chức năng thất trái là 1, 5%, và tỷ lệ này 3, 4% ở người trên 65 tuổi. Hơn thế nữa tỷ lệ bệnh nhân không triệu chứng suy tim trên lâm sàng nhưng có rối loạn chức năng thất trái cũng cao tương tự. Ðây là công trình nghiên cứu dịch tễ học về suy tim có sử dụng siêu âm tim, phương pháp cận lâm sàng này ngày càng phổ biến vì dễ thực hiện và nhất là giúp cho chẩn đoán suy tim chính xác hơn(4)
Nghiên cứu Framingham, thực hiện 1949, trên 5209 người, tuổi 30-62 sau 34 năm theo dõi, công trình đã chứng minh tỷ lệ mới mắc cũng tăng theo tuổi, tỷ lệ này tăng gấp đôi cho mỗi 10 năm, ngoài ra nó còn thay đổi theo phái tính. Thật vậy kết quả cho thấy, ở nam, tỷ lệ 2; 5; 9; 17; 31%0 với nhóm tuổi 45-54, 55-64, 65-74, 75-84, 85-94. Ở nữ, tỷ lệ là 1; 3; 6; 13; và 28%0 tương ứng cùng với các nhóm tuổi trên (hình 2)
Bảng 2: Tỷ lệ mới mắc suy tim.
|
Tác
giả |
Nước |
Tỷ
lệ %0 |
|
Remes -cs |
Phần lan |
4, 1 (nam, 45-74t) 3 (nữ, 45-74 t) |
|
Ericksson -cs |
Thụy Ðiển |
1, 5 (54 t) 4, 3 (55-60 t) 10, 2 (>60t) |
Sử dụng tiêu chuẩn Framingham để chẩn đoán suy tim, các nghiên cứu Châu ÂU cũng cho thấy sự liên quan giữa tỷ lệ mới mắc theo tuổi và giới tính (bảng 2).
Theo Remes, tỷ lệ mới mắc suy tim trên 37600 dân sống ở phía tây Phần Lan trong độ tuổi 45-74 là 4, 1 %0 ở nam, 3%0 ở nữ(6).
Trong nghiên cứu Ericksson, tỷ lệ này là 1,5; 4,3; 10,2%0 tương ứng với các nhóm tuổi 50-54, 55-60 và 61-67(4). Từ hai chỉ số chính về dịch tễ học trong các công trình đã nêu trên ta nhận thấy:
-Tỷ lệ hiện mắc và tỷ lệ mới mắc suy tim tương đối cao, cả hai đều có xu hướng gia tăng theo tuổi và thay đổi theo giới tính (nam có tỷ lệ bệnh cao hơn)
--Ða số chẩn đoán suy tim dựa trên triệu chứng lâm sàng, tiền sử mắc bệnh hoặc có bổ sung thêm X quang, do đó khó phản ánh chính xác tần suất mắc suy tim thật sự.
--Tần suất suy tim giữa các công trình phản ánh chủ yếu sự khác biệt về phương pháp và đối tượng nghiêân cứu hơn là sự khác biệt thật sự giữa các chủng tộc.
Hình 2: Tỷ lệ mới mắc suy tim theo tuổi (nghiên cứu Framing ham)
Nghiên cứu Framingham (1948-1998) cho thấy tiên lượng suy tim không khả quan hơn so với tiên lượng bệnh ung thư, thật vậy tỷ lệ sống 5 năm của suy tim là 25% ở nam, 38% ở nữ trong khi đó tỷ lệ này là 50% đối với bệnh ung thư.
Nếu tính thời gian sống trung bình thì thời gian này là 1, 66 năm ở nam và 3, 17 năm nữ(3,6).
Các số liệu từ những nghiên cứu Châu ÂU cũng có cùng nhận xét, nghiên cứu tại Thuỵ điển cho thấy tỷ lệ sống 5 năm là 50%(4), tại Pháp mỗi năm có khoãng 40.000 trường hợp tử vong do suy tim(2).
Nếu trong nghiên cứu Framingham tăng huyết áp được xem là nguyên nhân hàng đầu đưa đến suy tim thì nhưng công trình từ thập niên 80 đều cho thấy vai trò nổi bật của bệnh lý mạch vành.
Theo Sutton, 1987-1988, trên 140 bệnh nhân đang được điều trị tại Luân Ðôn có 41% suy tim do thiếu máu cơ tim, 6% suy tim do tăng huyết áp và 36% là do kết hợp cả 2 bệnh(6).
Công bố 1992, Taffet và cộng sự cho thấy rằng bệnh mạch vành và tăng huyết áp đều là những nguyên nhân chính gây suy tim ở người lớn tuổi(7)
Bảng 3: Nguyên nhân suy tim
|
Nguyên
nhân |
CONSENSUS |
V-HeFT
II |
SOLVD |
DIG |
|
TMCT |
72% |
53% |
71, 1% |
70, 8% |
|
THA |
19% |
48% |
42, 2% |
7, 9% |
|
VAN TIM |
2, 2% |
- |
- |
1, 4% |
|
CƠ TIM |
16% |
- |
18, 3% |
14, 5% |
|
NNK |
21% |
21% |
25, 8% |
1, 6% |
GHI CHÚ: CONSENSUS = Cooperative
North Scandinavian Enalapril Survival Study V-HeFT II = Vasodilator
Heart Failure Trial Ii SOLVD = Study
Of Left Ventricular Dysfunction DIG = Digitalis
Investigation Group NNK = nguyên nhân
khác.
Các công trình nghiên cứu khác như CONSENSUS (Cooperative North Scandinavian Enalapril Survival Study), V-HeFT II (Vasodilator Heart Failur Trial II), SOLVD (Study Of Left Ventricular dysfunction) đều cho thấy sự vượt trội của bệnh mạch vành trong suy tim (bảng 3)
Tại các nước Châu Á, 20 năm qua, cũng với sự phát triển kinh tế -xã hội của các nước trong khu vực đã góp phần làm thay đổi các nguyên nhân dẫn đến suy tim.
Các bệnh thấp tim, bệnh van tim hậu thấp, bệnh tim bẩm sinh đã giảm đáng kể nhờ vào chương trình phòng chống thấp, vai trò phẫu thuật, dân trí được nâng cao.
Bên cạnh đó, sự ảnh hưởng nếp sống phương tây, sự thay đổi thói quen trong ăn uống, trong sinh hoạt làm gia tăng tỷ lệ bệnh mạch vành và tăng huyết áp, trong thập niên 90 bệnh mạch vành là nguyên nhân chính đưa đến tử vong(1,5).
Hai công trình lớn tại MỸ đã chứng minh bệnh suy tim ảnh hưởng lên sinh hoạt bệnh nhân nhiều hơn các bệnh mãn tính khác như tiểu đường, thấp khớp, bệnh phổi mãn tính... (hình 3)
Bên cạnh đó họ còn có nguy cơ bị các biến chứng suy tim như rung nhĩ nhồi máu cơ tim, thuyên tắc mạch, đột quị... Người ta thấy bệnh nhân bị suy tim có nguy cơ nhồi máu cơ tim gấp 2, 5 -5 và nguy cơ đột quị cao hơn 4 lần so với người không suy tim(4).
Số lần cần nhập viện để điều trị cũng khá cao:
Tại ANH mỗi năm có 2 %o người nhập viện do suy tim. Số bệnh nhân nhập viện do suy tim cao hơn số bệnh nhân nhập viện do nhồi máu cơ tim(4)
Tại PHÁP có khoảng 148 000 người nhập viện vì suy tim (1992-1993)(2)
Tại MALAYSIA, suy tim chiếm tỷ lệ là 12, 5% tổng số nguyên nhân vào viện(1)
Không những là vấn đề cần nhập viện mà số ngày nằm viện cũng kéo dài.
Tại MỸ thời gian điều trị trung bình là 8-11 ngày(4)
Tại ANH thời gian này là 11, 4 ngày đối với bệnh nhân trẻ, và 24, 5 ngày ở người già
Tại PHÁP thời gian trung bình là 10, 7 ngày(2)
Tại MALAYSIA thời gian trung bình vào khoảng 7 ngày(1)
Các nhà xã hội cho rằng các bệnh mãn tính nói chung, suy tim nói riêng là một trong các nguyên nhân chính dẫn đến stress, thất nghiệp, và sự tan vỡ gia đình