TAI BIẾN

FNA tuyến giáp là một thủ thuật an toàn vì biến chứng rất hiếm (< 2% trường hợp trong nhiều báo cáo)(4)

- Biến chứng thường gặp nhất là xuất huyết tại chỗ đâm kim qua da, có thể đề phòng bằng cách ấn mạnh ngay sau khi rút kim.

- Xuất huyết vào trong tuyến giáp hiếm khi cần phải can thiệp phẫu thuật

- Biến chứng hiếm:

+ Năm 1983, Miler và cộng sự(10) báo cáo một trường hợp rách tĩnh mạch cảnh trong và bệnh nhân chết vài giờ sau.

+ Nhức đầu nhẹ và ngất do thần kinh X bị kích thích, thường bệnh nhân sẽ tự tỉnh lại ngay hoặc sau khi được ngửi muối.

+ Thủng khí quản, hiếm khi xảy ra đối với bác sĩ quen làm FNA. Nếu thủng thì rút ra làm lại.

+ Hoại tử u tại chỗ làm FNA theo Kini(6) và cộng sự là 2%

+ Gieo rắc tế bào ung thư qua đường kim khi sử dụng kim nhỏ thì chưa thấy báo cáo. Tuy nhiên, có hai ca FNA thực hiện bằng kim lớn đã ghi nhận biến chứng này(4).

GIÁ TRỊ CỦA CHẨN ÐOÁN TẾ BÀO HỌC TUYẾN GIÁP

Ưu điểm

 Có nhiều lý do giải thích vì sau FNA tuyến giáp ngày nay được sử dụng rộng rãi.

- Từ khi siêu âm được sử dụng rộng rãi, người ta phát hiện ra nhiều trường hợp có nhân trong tuyến giáp. Ðể chẩn đoán tính chất của các trường hợp nàyvà để tránh những phẫu thuật tuyến giáp không cần thiết, FNA được sử dụng nhò vậy đã làm giảm 48% số ca sinh thiết tuyến giáp(4,2).

- Nhiều người nói chẩn đoán mô học luôn luôn chính xác hơn tế bào học. Nhưng muốn làm một chẩn đoán mô học cần phải phẫu thuật cắt tuyến giáp làm sinh thiết tức thì hay vùi nến. Sinh thiết một mảnh bướu không thể cho kết luận về tình trạng xâm nhập vỏ bao và mạch máu được. Do đó sinh thiết một mảnh không có lợi mà lại nguy hiểm và tốn kém hơn chọc hút tế bào. Hơn nữa sau sinh thiết mô dễ bị dính và có thể bị di căn do gieo rắc tế bào bướu trên đường sinh thiết. Ðây cũng chính là lý do khiến người ta áp dụng phương pháp chọc hút tế bào.

- FNA tuyến giáp có các ưu điểm sau:

     + Kỹ thuật đơn giản (Simple)

     + Ðộ nhạy cảm 83%, độ chuyên biệt 92%, độ chính xác 95%, cao hơn so với các kỹ thuât chẩn đoán quy ước thường dùng khác trước mổ của tuyến giáp chỉ cho tỷ lệ chính xác 10 - 25% (đối chiếu kết quả sau mổ)(2)(Accuracy)

     + Thực hiện nhanh (Fast)

     + Ít tốn kém (Economy)

Tóm lại, có thể nhớ dễ dàng các ưu điểm trên với các chữ viết tắt của chúng: S, A, F, E chúng ta lại được một ưu điểm cuối cùng, đây là một kỹ thuật an toàn cho

bệnh nhân, là một xét nghiệm đầu tiên nên làm cho những tổn thương tuyến giáp.

Nhược điểm

Trên đây là những ưu điểm của phương pháp, còn về những nhược điểm thì sao ?

- Theo Feldman(4): tỷ lệ âm giả: 0,3-6% ít hơn tỉ lệ âm giả của cắt lạnh

tỷ lệ dương giả: 0-2,5%

+ Âm giả thường là do sai sót trong quá trình chọc hút chứ không do phân tích hình ảnh tế bào sai. Có thể giảm tỷ lệ âm giả bằng cách chọc lại nhiều lần nếu có nghi ngờ.

+ Dương giả thì không tránh khỏi, dù là một nhà bác học giàu kinh nghiệm.

- Ngoài ra, FNATG vẫn có những hạn chế khi đọc kết quả tế bào, sẽ bàn đến trong phần tiếp theo.

Ðọc kết quả và chẩn đoán phân biệt của FNA tuyến giáp

Ðọc đúng kết quả FNA tuyến giáp thì khó, bởi vì có thể có nhiều hình thái tổn thương cùng xuất hiện trên một phết tế bào tuyến giáp và khó khăn thường gặp nhất là chẩn đoán phân biệt giữa tân sinh nang lành và ác; giữa phình giáp cục và tân sinh nang.

Bảng 3: Ðặc điểm tế bào học trong viêm giáp hashimoto và limphôm

Ðặc điểm

Viêm giáp Hashimoto

Limphôm

Mật độ TB

Hỗn hợp giữa limphô bào và TB dạng biểu mô

Chủ yếu là limphô bào

TB Hürthle

Thường nhiều

Không thấy

TB dạng limphô

Dân số hỗn hợp

Dân số đồng dạng

Limphô bào

Bình thường

Bất thường

Mô bào đa nhân (đại bào)

Phổ biến

(-)

TB dạng biểu mô

Phổ biến

(-)

Chất keo

Có thể thấy

Hiếm

Bảng 2 cung cấp một số yếu tố giúp chẩn đoán tế bào tuyến giáp bằng FNA:

Tuy có thể chẩn đoán dễ dàng Carcinom TG không biệt hóa và Carcinom TG dạng nhú, nhưng FNA TG lại đem đến một vấn đề lớn khi phải chẩn đoán phân biệt giữa Limphôm và Viêm TG Hashimoto cũng như Phình giáp keo và Tân sinh nang. Grace T Mc Kee(9) đã đề nghị hai bảng 3 và 4 để giúp chẩn đoán phân biệt hai vấn đề này:

Bảng 4: Ðặc điểm tế bào học trong phình giáp keo và tân sinh nang

Ðặc điểm

Phình giáp keo

Tân sinh nang

Mật độ TB

Thay đổi

Thường nhiều

Chất keo

Nhiều

Ít

Các nhóm TB

Những dây rộng

Những đám thành nang nhỏ

Nang nguyên vẹn

Hiện diện

Nang tuyến nhỏthấy rõ lòng

Nhân trần

Phổ biến

Hiếm

TB biểu mô

Hiếm

Hiện diện

TB Hürthle

Phổ biến, đa dạng

Ðơn dạng

Mô đệm

Không hiếm

Hiếm

Mô bào

Nhiều

Rất ít

Ðại thực bào ăn hồng cầu

Nhiều

Hiếm

Mô bào nhiều nhân

Phổ biến

Hiếm

Tinh thể Cholesterol

Không hiếm

Hiếm

KẾT LUẬN:

Tuy còn hạn chế trong việc chẩn đoán giữa tân sinh nang lành và ác, cũng như giữa phình giáp cục và tân sinh nang, FNA TG lại rất hữu dụng trong chẩn đoán carcinom TG dạng nhú và các hình thái tổn thương khác của TG. Ðồng thời nó hơn hẵn những xét nghiệm khác ở tính đơn giản, chính xác, nhanh chóng, ít tốn kém mà vẫn an toàn. Vì vậy ngày nay, phương pháp này đã đuợc sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới và được đề nghị là xét nghiệm đầu tiên nên làm cho những nhân lạnh đơn độc ở tuyến giáp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.        CROTTI A: Disease of the thyroid, Parathyroid and thymus. Philadelphia, Lea & Febiger, 1938.

2.        DEMAY RM: The art & science of cytopathology. ASCP Press, Chicago, 1996;17:703-765.

3.        DROSE M: Cytological aspiration biopsy of the thyroid gland. F.K.Schattauer verlag Stuffgart, newyork, 1980.

4.        FELDMAN PS, COVELL JL, KARDOS TF: Fine needle aspiration cytology: Lymph node, Thyroid and Salivary gland. ASCP Press, Chicago, 1989;3:97-162.

5.        FRAZELL EL, FOOTE FW: Papillary cancer of the thyroid. Cancer 1958; 11:895-922.

6.        KINI SR: Post fine needle aspiration biopsy infartion in thyroid nodules, abstracted. Mod Pathol 1988;1:48A.

7.        MARTIN HE, ELLIS EB: Biopsy by needle puncture and aspiration. Ann Surg 1930; 92: 169-181.

8.        MARTIN HE, ELLIS EB: Aspiration biopsy. Surg Gynecol Obstet 1934; 59:578-589.

9.        MCKEE GT: Cytopatholpgy. Mosby Wolfe, 1997;7:85-111.

10.     MILLER JM, KINISR: Needle biopsy of the thyroid. Newyork, Praeger publishers, 1983.

11.     SưDERSTRưM, N: Aspiration biopsy: Punture of goiter for aspiration biopsy. Acta Med Scand 1952; 144:237-244.

12.     STEWART  FW: Diagnossis of tumors by aspiration. Am J Pathol 1933; 9: 801-812.