dài khác khau, được dùng để làm rộng hoặc để thay thế một phần hay toàn phần bàng quang.
Bướu bàng quang đứng hàng đầu trong các nguyên nhân kể trên, đặc biệt như ở Việt Nam khi người bệnh thường chỉ đến khám sau một thời gian dài có triệu chứng. Lựa chọn phương thức chuyển lưu nước tiểu cần được cân nhắc một cách thận trọng. Ước muốn của người bệnh và cũng là của Bs điều trị là tái tạo cơ quan đã mất để người bệnh có thể trở lại cuộc sống bình thường.
Với mục đích vừa kể, từ 1993 đến nay, tại Bệnh viện Bình Dân, chúng tôi đã thực hiện được 32 trường hợp tạo hình thay thế bàng quang bằng hồi tràng kiểu áp lực thấp trong phẫu thuật cắt bỏ toàn phần bàng quang và tiền liệt tuyến với kết quả gần rất khả quan và được bệnh nhân chấp nhận.
Bệnh nhân nam, thể trạng và dinh dưỡng tốt.
Có chỉ định cắt bỏ bàng quang toàn phần.
Hệ thống tiêu hóa tốt, nhất là đoạn ruột được sử dụng.
Không
biểu hiện suy thận trước mổ.
Các xét nghiệm thực hiện:
Ngoài những xét nghiệm thường quy, các xét nghiệm sau đây được làm trước, sau mổ và được lập lại nhiều lần trong các kỳ tái khám:
Xét nghiệm sinh hóa chức năng thận, nước và điện giải.
Niệu ký nội tĩnh mạch (UIV) và âm vang ký (siêu âm) để biết hình ảnh thận, bàng quang và bàng quang tân tạo.
Xạ ký bàng quang tân tạo bằng thuốc cản quang tìm hiện tượng ngược dòng
Áp lực đồ bàng quang
Trong phần này, cần khảo sát:
Trước mổ: bướu bàng quang loại gì, mức độ thâm nhiễm và ảnh hưởng đến niệu quản vàthận, cổ bàng quang và tiền liệt tuyến. Ðã di căn sang hạch ở chậu hông bé chưa ? mục đích là để xác định chỉ định cắt bỏ bàng quang toàn phần là thỏa đáng. Khảo sát về thể trạng chung của bệnh nhân: yếu tố dinh dưỡng, protein trong máu... để xác định bệnh nhân có thể chịu đựng được cuộc phẫu thuật và sẽ lành vết thương tốt.
Sau mổ: đánh giá bàng quang mới
- dung tích, sức co bóp, chức năng đi tiểu, nước tiểu tồn lưu..
- chỗ cắm 2 niệu quản và chỗ nối bàng quang mới vào niệu đạo
- sự thay đổi của bàng quang theo thời gian, có to dần ra không, và ảnh hưởng lâu dài đến thận.
Ðường mổ: Ðường giưã dưới rốn
Thì cắt bàng quang - tiền liệt tuyến - túi tinh: chú ý giữ đầu niệu đạo còn lại bằng 4 mũi chỉ để sẵn.
Thì tạo hình bàng quang bằng hồi tràng:
Chọn một đoạn hồi tràng dài 50-60cm, có mạch máu nuôi tốt và cách van hồi manh tràng 20cm. Mạc treo ruột giải phóng đủ dài để không căng khi nối bàng quang tân tạo vào niệu đạo. Mở ống ruột: Cắt mở ruột tại bờ tự do. Chú ý vị trí sẽ khâu vào niệu đạo. Sắp xếp ruột lại hình túi bằng cách gấp ruột 2 lần, lần thứ 1 tương tự phương pháp CAMEY(4), lần thứ 2 thẳng góc với lần đầu để khi khâu lại sẽ được một túi gần hình tròn
Cắm lại niệu quản vào bàng quang tân tạo (Phương pháp LEDUC - CAMEY): cóù đặt 2 thông niệu quản số 5 Fr.
Khâu nối bàng quang tân tạo vào niệu đạo: có đặt 1 thông niệu đạo Foley số 16 Fr.
Mở bàng quang ra da bằng 1 thông lớn (tối thiểu số 24 Fr) có nhiều lỗ ở về phía đầu thông.
Chỉ sử dụng: Polyglycolic acid 4/0 để khâu ruột và 2/0 hoặc 1/0 để khâu bàng quang vào niệu đạo.
Hậu phẫu: Ngoài thông mũi - dạ dày (thường được rút vào ngày hậu phẫu 3) bệnh nhân còn mang thêm 4 thông: 2 thông niệu quản,1 thông niệu đạo, 1 thông bàng quang và được dẫn lưu bằng 3 penrose lớn tại 2 bên hố chậu (ngoài phúc mạc) và tại vị trí của túi cùng Douglas (trong phúc mạc). Trong ngày đầu hậu phẫu, bàng quang tân tạo được bơm rửa nhẹ nhàng bằng nước muối đẳng trương 9%o mỗi 3 giờ một lần. Trong những ngày sau, việc bơm rửa bàng quang được thực hiện 3 lần mỗi ngày vào buổi sáng, buổi chiều và trong đêm. Mục đích là để rửa sạch chất nhày do ruột tiết ra.
Trung bình các dẫn lưu và các ống thông được rút tuần tự vào các ngày hậu phẫu sau:
|
(Dẫn lưu trong phúc mạc: |
Rút ngày 4 |
|
(Dẫn lưu ngoài phúc mạc: |
Rút ngày 6 |
|
(2 thông niệu quản: |
Rút ngày 12 |
|
(Thông bàng quang: |
Rút ngày 16 |
|
(Thông niệu đạo: |
Rút ngày 20 |
32 bệnh nhân, tuổi trung bình = 58 tuổi (34-76 tuổi). Trường hợp đầu tiên thực hiện tháng 3/1993. Thời gian mổ trung bình = 5 giờ 40 phút (4giờ 35 - 7 giờ 20). 28 trường hợp mổ lần đầu, 8 trường hợp mổ lại (bướu tái phát sau cắt đốt nội soi hoặc sau mổ hở cắt bán phần bàng quang). Về giải phẫu bệnh: 2 TH K tế bào gai, 1 TH Ktuyến, số còn lại (29 TH) là K tế bào chuyển tiếp. Thời gian nằm viện trung bình là 29 ngày kể từ ngày mổ, sau khi đã rút hết tất cả các ống thông. Sau này, để rút ngắn thời gian nằm viện, bệnh nhân được rút thông niệu đạo trước và mang thông bàng quang về (7 TH). Thông này sẽ được rút 1 tháng sau,ở kỳ tái khám đầu.
Tất cả các bệnh nhân được tái khám và theo dõi tối thiểu trong 6 tháng sau khi xuất viện; 23 bệnh nhân được theo dõi trên 1 năm và 8 bệnh nhân trên 2 năm.
1 trường hợp vì viêm phúc mạc hậu phẫu vì dò ruột. Bệnh nhân được mổ lại cắt bỏ bàng quang tân tạo và đem 2 niệu quản ra da nhưnh không phục hồi được sau mổ.
1 trường hợp rách trực tràng trong thì cắt bỏ bàng quang. Trường hợp này được xử trí bằng mở đại tràng sigma ra da. Ống tiêu hoá được khâu phục hồi lại 3 tháng sau, khi bàng quang tân tạo đã tương đối ổn định.
- Liệt ruột kéo dài: 7 trường hợp phải đặt thông mủi-dạ dày quá 5 ngày, trong đó, 1 trường hợp viêm phúc mạc (đã kể trên) và 1 trường hợp do viêm nhiễm khoang chậu sau phúc mạc (do rút penrose quá sớm, phải mổ đặt lại dẫn lưu)
- Dò dỉ nước tiểu: 6 trường hợp dò dỉ nước tiểu qua dẫn lưu kéo dài, trên 10 ngày mới rút được hết các penrose. 1 trường hợp dò dỉ trên mu tại vị trí đặt thông bàng quang mặc dù đi tiểu khá tốt. Bệnh nhân này được hướng dẫn tự đặt thông niệu đạo để lấy hết nước tiểu tồn lưu sau mổi lần đi tiểu. Khoảng 1 tháng sau, khi bệnh nhân tái khám thì nơi dò dỉ đã lành hẳn.
Biến chứng xa: 1 trường hợp hẹp niệu đạo trước do đặt thông kéo dài được xử trí bằng nong niệu đạo định kỳ, 3 trường hợp hẹp cổ bàng quang tân tạo (chỗ nối bàng quang vào niệu đạo) được cắt đốt nội soi 2 - 3 tháng sau.
Chúng tôi xin
mạn phép đề ra một vài tiêu chuẩn sau để đánh giá kết
quả của phương pháp tạo hình.
|
|
TỐT |
TRUNG BÌNH |
XẤU |
|
Dung tích sinh lý Thời gian giữa 2 lần đi tiểu Thể tích còn lại sau đi tiểu Vòi nước tiểu Khả năng kiểm soát |
> 300 cc. > 2 giờ < 50cc. > 20cc / giây Hoàn toàn ban ngày thỉnh thoảng không được ban đêm. |
150 - 300 cc 1 - 2 giờ 50 - 100 cc 5- 20 cc/ giây Ban ngày có lúc không được. Ban đêm không được. |
< 150 cc. < 1 giờ > 100 cc. < 5cc/giây Không được cả ngày lẫn đêm. |
Nếu chỉ tính trên 3 tiêu chuẩn: dung tích sinh lý của bàng quang tân tạo, thời gian giữa 2 lần đi tiểu và độ mạnh của vòi nước tiểu, thì hầu hết (29/32 trường hợp) đều đạt tiêu chuẩn tốt kể cả đối với một vài bệnh nhân còn than phiền tiểu gắt buốt. Tuy vậy, thể tích ứ đọng sau khi đi tiểu còn khá (3 trường hợp 100cc, 7 trường hợp trên 50cc) và một số đông bệnh nhân (13 trường hợp) còn chưa kiểm soát được về đêm.
3 trường hợp sốt sau khi thông niệu đạo được rút. Sau 5 ngày điều trị bằng kháng sinh thì hết sốt. Chụp X quang bàng quang không thấy có hiện tượng ngược dòng bàng quang - niệu quản.
Không có rối loạn nước điện giải nhiều, ngoại trừ trong 6 trường hợp thấy Cl- hơi tăng qua xét nghiệm ion đồ huyết. Không có biểu hiện trên lâm sàng và không cần điều trị gì thêm.
Tất cả các trường hợp đều cho thấy chức năng bài tiết hai thận đều tốt (UIV) tuy nửa số trường họp có chướng nước độ I ở thận (siêu âm) và giãn nở nhẹ niệu quản. Tình trạng này cải thiện rỏ trong 3 tháng sau.
Tất cả các bệnh nhân đều trở lại tái khám một hoặc nhiều lần trong vòng 6 tháng đầu.
Với việc tập quen dần với bàng quang tân tạo (về cả cảm giác lẫn vận động), bệnh nhân nhận biết dần khi nào bàng quang đầy và biết cách vận động các cơ thành bụng để hỗ trợ động tác đi tiểu.