Bảng 1 : Phân bố bệnh nhi theo thời gian chán ăn.
|
Thời gian chán ăn |
N |
(%) |
Thời
gian chán ăn trung bình x
±
SD tháng |
|
0,5 - < 3 tháng |
36 |
(27,3%) |
|
|
3 - < 6 tháng |
28 |
(21,2%) |
10,28 ± 9,8 tháng |
|
6 - < 12 tháng |
30 |
(22,7%) |
(0,5 tháng - 48 tháng) |
|
12 - < 24 tháng |
26 |
(19,7%) |
|
|
³ 24 tháng |
12 |
(9,1%) |
|
|
Tổng cộng |
132 |
(100%) |
|
Tỉ lệ chán ăn giảm dần theo thời gian chán ăn.
Bảng
2 : Mức độ chán ăn (mức tiêu thụ
năng lượng Kcal/Kg/ngày)
|
Mức độ chán ăn
(Kcal/Kg/ngày |
n |
% |
|
Mức ăn ³ 90 Kcal (sau ép ăn) 70 - < 90 Kcal (chán ăn nhẹ) 50 - < 70 Kcal (chán ăn) < 50 Kcal (chán ăn nặng) |
32 30 36 34 |
24,2% 22,7% 27,3% 25,8% |
|
Tổng cộng |
132 |
100% |
Các mức độ chán ăn nhẹ, vừa và nặng đều có tỉ lệ khoảng 25%.
Bảng 3 :
Mức tiêu thụ năng lượng theo tuổi của trẻ chán ăn.
|
|
N |
Kcal/Kg/ngày
x
±
SD |
t1
bên |
P |
|
A) 3 - < 12 B) 12 - < 24 C) 24 - < 36 D) 36 - 48 |
30 52 26 24 |
82 ± 22 67 ± 23 61 ± 20 56 ± 19 |
A/B : 2,924 A/C : 3,740 A/D : 4,656 |
< 0,005 < 0,0005 < 0,0005 |
|
3 - 48 |
132 |
65 ± 21 (P < 0,0005 khi so với nhu cầu lý thuyết) |
||
Mức
tiêu thụ năng lượng của trẻ chán ăn đều thấp hơn nhu cầu
bình thường ở mọi lứa tuổi và có xu hướng giảm dần
theo tuổi,có ý nghĩa thống kê rõ rệt (P<0,005).
Phần lớn nguyên nhân gây chán ăn được các bà mẹ ghi nhận (biểu đồ 3).
Biểu
đồ 3 : Tỉ lệ % của các nhóm nguyên
nhân gây chán ăn.
sau
các bệnh nhiễm trùng

Tỷ lệ chán ăn được phân theo 5 nhóm như sau :
+ Nhiễm trùng đường hô hấp : 45 (34,1%)
+ Nhiễm trùng đường tiêu hóa : 12 (9,1%)
+ Sởi : 4 (3,03%)
+ Nhiễm trùng nơi khác : 3 (2,3%)
+ Từ chế độ sửa sang chế độ bột :12 (9,1%)
+ Từ chế độ bột sang chế độ cháo : 2 (1,5%)
+ Từ chế độ cháo sang chế độ cơm : 1 (0,8%)
+ Do mẹ cai sửa sớm và gởi con để đi làm: 5 (3,8%)
+ Do gởi trẻ vào nhà trẻ, mẫu giáo đột ngột: 3 (2,3%)
+ Do cha mẹ ly dị, ly thân, gia đình bất hòa: 2 (1,5%)
+ Từ khi sinh ra nhẹ cân : 4 (3%)
+ Sau mọc răng : 4 (3%)
+ Sau tiêm chủng : 2 (1,5%)
+ Sau ngộ độc thuốc : 2 (1,5%)
+ Sau chấn thương (té võng) : 1 (0,8%)
+ Có biểu hiện của thiếu Vit.PP : 1 (0,8%)
+ Do môi trường nóng bức (nhà tôle):2 (1,5%)
Chúng tôi chọn trẻ có độ tuổi từ 3 tháng đến 48 tháng tuổi vì đây là lứa tuổi đến khám vì lý do chán ăn thường gặp nhất.
Chủ yếu (85%) trẻ đến khám từ TP. Hồ Chí Minh. Có 15,2% đến khám từ các tỉnh, trong đó có nhiều tỉnh ở rất xa như Cần Thơ, Minh Hải, Ðồng Tháp, Bình Thuận. Ðiều đó cho thấy mối quan tâm đặc biệt của bà mẹ cũng như tính khó chữa của chứng chán ăn. Nhiều bà mẹ than phiền rằng rất khổ sở vì việc này và thường mang cháu đi chữa trị nhiều nơi.
Trong 132 trẻ chán ăn được nghiên cưú, chúng tôi nhận thấy hầu hết bắt đầu khởi sự chán ăn không chữa khỏi, ở độ tuổi dưới 36 tháng (96,2%) và tập trung nhiều nhất ở lứa tuổi bắt đầu ăn dặm đến dưới 2 tuổi (87,1%), tương ứng với thời kỳ trẻ phải chịu nhiều ảnh hưởng của các biến đổi về tâm lý-sinh lý, miễn dịch, dinh dưỡng và các thay đổi về môi trường (5).
Trẻ thường đến khám muộn sau một thời gian dài chán ăn, sự khác biệt về lứa tuổi bắt đầu chán ăn và lứa tuổi đến khám có ý nghĩa thống kê rất lớn (P<0,001).