Kỹ thuật vô cảm:

Chúng tôi chọn phương pháp vô cảm bằng gây mê nội khí quản với các loại thuốc mê bay hơi thuộc nhóm Halogène như Halothane, 165 bệnh nhân không sử dụng Atropine trong quá trình tiền mê.

Ðánh giá kết quả sau mổ

Ðánh giá kết quả trong và ngay sau mổ:

+ Kết quả tốt: Không có biến chứng trong và sau khi mổ, bệnh nhân ra viện sau 7 ngày.

+ Kết quả trung bình: Có một vài biến chứng nhỏ như: tụ máu vết mổ, nhiễm trùng vết mổ hoặc chảy máu ít sau khi mổ, hạ Calci huyết tạm thời, khàn tiếng tạm thời v.v.

+ Kết quả xấu: Có nhiều biến chứng đe dọa tính mạng cơn bão giáp trạng, co thắt khí quản, liệt dây thần kinh quặt ngược, tử vong v.v.

Ðánh giá kết quả xa sau mổ:

Bệnh nhân khi ra viện được hẹn đến kiểm tra định kỳ 6 tháng, một năm và hai năm. Ngoài ra bất cứ khi nào có những biểu hiện bất thường đều có thể khám lại. Ðánh giá kết quả phẫu thuật dựa vào khả năng cường giáp tái phát hoặc suy giáp sau mổ và 5 mức độ được Nguyễn Khánh Dư [1] đưa ra vào năm 1978 như sau:

+ Kết quả tốt: Vết mổ sẹo ổn định, bướu giáp không tái phát, ăn uống bình thường, lên cân so với trước mổ, hết run chân tay, không còn cảm giác nóng bức và ra nhiều mồ hôi, nhịp tim bình thường, không phải điều trị bổ sung.

+ Kết quả khá: Sẹo vết mổ ổn định hoặc chỉ vướng nhẹ khi nuốt, bướu giáp không tái phát, ăn uống bình thường, lên cân so với trước mổ, hết run hoặc chỉ còn run nhẹ tay chân. Không có biểu hiện của suy giáp hay cường giáp tái phát.

+ Kết quả vừa: Sẹo vết mổ vướng hoặc đau, có cường giáp tái phát, vẫn gầy sút và run tay nhẹ, còn cảm giác nóng bức và ra nhiều mồ hôi, nhịp tim nhanh thường xuyên, lâm sàng có biểu hiện của cường giáp tái phát.

+ Kết quả kém: Ðiều trị không có kết quả

+ Kết quả xấu: Bệnh nặng thêm hoặc ngược lại chuyển thành tình trạng suy giáp nặng sau mổ. Ngoài ra bệnh nhân còn bị thêm các biến chứng kéo dài do cuộc mổ đem lại như: Tetanie kéo dài và liên tục, tổn thương vĩnh viễn dây thần kinh quặt ngược, dò mủ vết mổ lâu liền.v.v.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Phân bố tuổi bệnh nhân

Bảng 1: Phân bố tần suất

Lớp tuổi

Tần số

Tỷ lệ%

Tần số dồn

10-19 tuổi

13

5,3%

5,3%

20-29

73

29,8%

35,1%

30-39

91

37%

72,2%

40-49

36

14,7%

86%

50-59

17

6,9%

93,9%

60-69

11

4,5%

98,4%

70-79

4

1,6%

100%

Tổng cộng

245

100%

100%

Tuổi trung bình của 245 bệnh nhân là: m = 35,2 ± 0,7 với độ lệch chuẩn: sd =12. Bệnh nhân nhỏ tuổi nhất: Trần Thị H, Huỳnh Thị K, Trần Tấn Th, Phạm Xuân Tr: 16 tuổi. Bệnh nhân lớn tuổi nhất: Phạm Thị T 72 tuổi.

3.2 Biểu đồ 1: Tần suất phân bố giới tính

           Trong 245 bệnh nhân của nhóm nghiên cứu có:

        Nam: 44 bệnh nhân, chiếm 18%.

        Nữ: 201 bệnh nhân, chiếm 82%

 Tỷ lệ Nam/Nữ: # 1/5.

Số ngày nằm viện điều trị

Bảng 2: Phân bố tần suất số ngày nằm điều trị ngoại khoa

Ngày nằm viện

Tần số

Tỷ lệ %

Tần số dồn

4 -8 ngày

25

10,2%

10,2%

9 -13 ngày

66

26,9%

37,1%

14 -18 ngày

146

59,5%

96,6%

> 18 ngày

8

3,2%

100%

Tổng cộng

245

100%

 

Trị số trung bình m =13,7 ± 0,2, với độ lệch chuẩn sd = 3,6. Bệnh nhân có ngày nằm viện điều trị ngắn nhất là 4 ngày, bệnh nhân có ngày nằm điều trị dài nhất là 36 ngày với 2 lần phải hoãn mổ.

Chỉ định phẫu thuật

Bảng 3: Phân bố tần suất

Chỉ định phẫu thuật

Tần số

Tỷ lệ

Bướu to độ III gây chèn ép

20

8%

Ðiều trị nội khoa thất bại

50

20,4%

Ðiều trị ngoại khoa nối tiếp với điều trị nội

161

65,7%

Không dung nạp với thuốc K.G.T.H

1

0,4%

Nghi ngờ có ung thư tuyến giáp kèm theo

3

1,2%

Tổng cộng

245

100%

Trong 245 bệnh nhân chỉ định phẫu thuật của chúng tôi chủ yếu có 3 chỉ định lớn, trong đó 20,4% số bệnh nhân được phẫu thuật do điều trị nội khoa thất bại. Tiêu chuẩn điều trị nội khoa thất bại: Bệnh nhân đã được điều trị nội khoa theo đúng quy định, thời gian điều trị kéo dài trung bình từ 3-6 tháng nhưng tình trạng lâm sàng vẫn không thật sự ổn định, hoặc ngưng sử dụng thuốc bệnh nhân bị tái phát lại ngay, trong số này có cả những bệnh nhân không có đủ điều kiện về tài chính hay thời gian để điều trị tiếp tục bằng nội khoa.

Hai mươi bệnh nhân Basedow với bướu cổ lớn độ III, trong đó chỉ có 15 bệnh nhân có dấu hiệu chèn ép vào khí quản gây khó thở, vào hệ động tĩnh mạch cảnh gây đau đầu.

Có tới 161 bệnh nhân, điều trị ngoại khoa được coi là giai đoạn kế tiếp của điều trị nội khoa. Các bệnh nhân này tuy điều trị nội khoa đã đưa bệnh nhân về tình trạng bình giáp, tuy nhiên bệnh nhân cần được phẫu thuật vì các nguyên nhân: kinh tế, xã hội, thẩm mỹ, nghề ngiệp.v.v.

Ba bệnh nhân có các dấu hiệu lâm sàng và sinh học, đặc biệt là xạ hình tuyến giáp cho kết quả nghi ngờ khả năng ung thư phối hợp với Basedow, chỉ định cắt toàn bộ tuyến giáp. Một bệnh nhân không dung nạp với thuốc kháng giáp tổng hợp với biểu hiện giảm bạch cầu và nổi mẩn ngứa khắp người sau hai tháng điều trị.

Kết quả phẫu thuật:

Hạ Calci huyết tạm thời do chèn èp vì phù nề sau mổ và thiếu máu nuôi dữơng của tuyến cận giáp trạng.

Hạ Calci huyết vĩnh viễn do cắt hết toàn bộ tuyến cận giáp trạng.

Khàn tiếng tạm thời do phù nề, viêm thanh quản sau mổ vì đặt nội khí quản

Khàn tiếng vĩnh viễn do tổn thương dây thần kinh quặt ngược một bên.

Bảng 4: Biến chứng trong và sau phẫu thuật: 245 bệnh nhân

Biến chứng

Tần số

Tỷ lệ

Hạ Calci huyết

@ Tạm thời

@ Vĩnh viễn

30

30

00

12%

12%

00%

Tụ máu dưới da

12

05%

Nhiễm trùng vết mổ

08

3,2%

Khàn tiếng

@ Tạm thời

@ Vĩnh viễn

03

02

01

1,2%

0,8%

0,4%

Chảy máu sau mổ

05

02%

Cơn bão giáp trạng

00

00%

Chảy máu trong khi mổ *

04

1,6%

Tử vong

01

0,4%

* Phải truyền 2 đơn vị máu

Hạ Calci huyết tạm thời là biến chứng quan trọng nhất sau phẫu thuật (30 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 12%), biến chứng này thường mất đi sau 7-10 ngày điều trị với Cacium gluconate dạng uống, chỉ có 4 bệnh nhân phải sử dụng thuốc dưới dạng tiêm tĩnh mạch 1-2 gm/ ngày.

Chỉ có bốn trường hợp chảy máu nhiều trong khi mổ phải truyền hai đơn vị máu, biến chứng cơn bão giáp trạng hầu như không có.

Có 5 trường hợp chảy máu sau mổ, trong đó có một trường hợp chảy máu nhiều do tụt nốt cột tĩnh mạch dưới da gây tụ máu và chèn ép vào khí quản phải mổ cấp cứu để cầm máu và giải áp.

Các trường hợp khàn tiếng đều được soi thanh quản để tìm nguyên nhân: phù nề thanh quản sau đặt nội khí quản khó khăn hoặc tổn thương dây thần kinh quặt ngược. Trong biến chứng tổn thương dây thần kinh quặt ngược, chúng tôi không có trường hợp nào bị tổn thương cả hai bện gây liệt khép của dây thanh âm đưa đến khó thở.

Bảng 5: Phân loại kết quả phẫu thuật trên 245 bệnh nhân

Kết quả

Tần số

Tỷ lệ

Tốt:

Không có biến chứng

 

210

 

85,8%

Trung bình:

Có một vài biến chứng nhỏ

 

34

 

13,8%

Xấu:

Có nhiều biến chứng đe dọa tính mạng

 

1

 

0,4%

Tổng cộng

245

100%

Chúng tôi có đến 244 bệnh nhân đạt kết quả tốt và trung bình sau mổ.

Bảng 6: Kết quả điều trị 6 tháng sau phẫu thuật 245 bệnh nhân

Kết quả

Tần số

Tỷ lệ

Kết quả tốt

93

93%

Kết quả khá

Kết quả vừa

Kết quả kém

Kết quả xấu

04

02

01

00

4%

02%

01%

00%

Tổng cộng

100

100%

Kết quả chung của điều trị ngoại khoa trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi là: 93% đạt kết quả tốt, 4% đạt kết quả khá và 2% đạt kết quả vừa và 1% có kết quả kém (bệnh nhân Trần Thị B, 37 tuổi, số nhập viện 110.96, tai biến liệt dây thần kinh quặt ngược bên trái, khàn tiếng vĩnh viễn) có 2 bệnh nhân (2%) bị suy giáp sau mổ có biểu hiện lâm sàng qua thời gian theo dõi 6 tháng, không có bệnh nhân nào có biểu hiện của cường giáp tái phát.