Kháng thể kháng nhân (ANA) là tự kháng thể chống lại nhiều cấu trúc của nhân tế bào deoxyribonucleic acid (DNA), những proteins trich ra từ nhân (mRNP), ribonucleic acid (RNA), histones, enzymes, hạt nhân (nucleoli). (1 - 10). Tần suất của kháng thể kháng nhân thay đổi tùy bịnh lý và tùy vào test dùng phát hiện ANA. Hiện nay phần lớn test thực hiện trên thực tế bào HEp -2 với tỷ lệ ANA (+) tăng cao hơn test thực hiện tế bào gan chuột, (1-10). Kháng thể kháng nhân còn tìm thấy ở trẻ khoẻ mạnh với tỷ lệ dương tính khá cao (6), cơ chế cũng như nguyên nhân của tần suất ANA cao ở trẻ khoẻ mạnh vẫn chưa rỏ. Nghiên cứu của GEDALIA.A (2) chứng minh vai trò của test ANA (+) (thực hiện trên tế bào HEp -2 với hiệu giá > 1 : 40) trong chẩn đoán bịnh lý tự miễn ở trẻ em, mà trong đó VKDTTE đứng hàng đầu trong số nhóm bịnh tự miễn có ANA (+), chiếm 41,35 %. Như vậy trong một bịnh cảnh nhất định, sự hiện diện của ANA hướng nghĩ nhiều đến bịnh lý tự miễn. Nếu trẻ có biểu hiện viêm khớp với ANA (+) thiø khả năng bị bịnh viêm khớp dạng thấp trẻ em cao hơn các bịnh lý khác. Do đó, mặc dù cả RF và ANA đều không có tính chuyên biệt trong bịnh VKDTTE nhưng ANA tỏ ra có giá trị chẩn đoán VKDTTE hơn so với RF (1,2). Hiệu giá ANA (+) trong nhóm có bịnh tự miễn thường cao hơn nhóm không có bịnh tự miễn một cách có ý nghĩa (p < 0,001) (> 1 : 160 so với < 1 : 80) (2). Riêng trong VKDTTE tần suất ANA cao nhất ở trẻ em gái có khởi phát viêm khớp ở lứa tuổi nhỏ, và thấp nhất ở trẻ trai lớn và ở thể toàn thân (1,8). nhận định này chiû có tính tương đối vì theo báo cáo ở một số nườc, tần suất ANA rất thay đổi trong bịnh VKDTTE nói chung và trong từng thể lâm sàng nói riêng (1, 3,7, 9,10), điều này có thể liên quan đến yếu tố điạ dư và chủng tộc.Thật vậy, tỷ lệ ANA (+) trong lô nghiên cứu của chúng tôi là 5,6% thấp hơn nhiều so với Yvăn (Âu Mỹ) là 65 -85% (1,10). Nhưng khi so sánh với các nước ở Châu Á (3,7,9), chúng tôi thấy không có sự chênh lệch nhiều về tỷ lệ chung ANA (+) trong bịnh VKDTTE (VD chúng tôi là 5,6% ; Korea (7) là 8%, Ấn Ðộ là 14,57%). Tuy nhiên tỷ lệ ANA (+) / VKDTTE ở Nhật (9), lại khá cao 48,83%. Nếu so sánh tần suất ANA (+) trong từng thể lâm sàng cũng có sự khác biệt giữa các nước (VD chúng tôi ANA (+) ở thể toàn thân là 0,8 %, thể ít khớp là 4,8% và thể đa khớp là 0% ; Korea (7) ANA ở thể toàn thân là 0%, thể ít khớp 0%, thể đa khớp 0% ; Ấn Ðộ (3), ANA (+) ở thể toàn thân là 8,33%, thể ít khớp là 6,24%, thể đa khớp là 0% ; Nhật (9) ANA ở thể toàn thân là 10%, thể ít khớp 75%, thể toàn thân là 40-50%). Như vậy, cần thiết phải điều tra về dịch tể học của bịnh VKDTTE vì nó rất thay đổi theo địa dư và chủng tộc. Do tần suất ANA trong nghiên cứu của chúng tôi, cũng như ở một số nước (3), (7) không cao như ở các nước Âu Mỹ (1,10) và Nhật (9), nên mặc dù ANA có giá trị trong chẩn đoán bịnh VKDTTE hơn RF nhưng nó cũng không được sử dụng rộng rải như test chẩn đóan. Tuy vậy, điều cần nhớ bên cạnh những xét nghiệm về phản ứng viêm cấp, cần làm thêm những xét nghiệm thăm dò đặc hiệu mà trong đó ANA quan trọng hơn RF vì nếu nó dương tính thì có giá trị chẩn đoán VKDTTE cao hơn so với RF. Về mối liên hệ giữa ANA và biến chứng viêm mống mắt thể mi trong bịnh VKDTTE, một số nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ biến chứng này thay đổi từ 2% - 21% và tỷ lệ này còn thay đổi theo thể lâm sàng của bịnh với ít hơn 2% ở thể toàn thân ; 7% -37% ở thể đa khớp ; phần lớn ở trẻ em bị VMMTM nằm ở thể ít khớp (8). Nhưng nghiên cứu khác, ghi nhân biến chứng VMMTM ở thể ít khớp là 20 %, thể đa khớp 5%, và rất hiếm gặp ở thể toàn thân (1,10). Các yếu tố nguy cơ của VMMTM ở trẻ em bịnh VKDTTE được ghi nhân qua Yvăn (1,10) như sau : Phần lớn các trẽ VKDTTE có biến chứng VMMTM là trẻ gáiù lứa tuổi nhỏ (2-5 tuổi) thuộc thể ít khớp với sự hiên diện của kháng thể kháng nhân từ 65-88% (8). Yếu tố dạng thấp thường không hiện diên ở trẻ VKDTTE có biến chứng VMMTM. Ngoài ra, yếu tố di truyền có thể đóng vai trò quan trọng trong khởi phát của biến chứng VMMTM ở trẻ VKDTTE (HLA - DR5 có liên quan đến tổn thương mắt ; HLA - DRW8 có liên quan mật thiết với thể ít khớp nhưng những trẻ này thường không có tổn thương mắt (8)).Tuy nhiên việc coi ANA như một trong những các yếu tố nguy cơ của biến chứng VMMTM ở trẻ em VKDTTE chỉ có tính tương đối như ở Korea (7), nguy cơ VMMTM không phụ thuộc vào ANA mà phụ thuộc vào HLA - B27. Ở Nhật (9) biến chứng VMMTM có liên quan mật thiết với ANA nhưng không liên quan với HLA - B27. Còn trong nghiên cứu của chúng tôi (có thể tạm coi đại diện cho trẻ em Việt Nam) thì có nguy cơ VMMTM trong VKDTTE có khác hơn Yvăn và các nghiên cứu ở một số nước: biến chứng VMMTM trong VKDTTE của chúng tôi tập trung chủ yếu ở thể ít khớp và thường gặp ở trẻ trai (nhiều hơn ở trẻ gái) lứa tuổi lớn (khoảng 14- 15tuổi) (thay vì là trẻ gái 2-3 tuổi như trong Yvăn) và có liên quan mật thiết với sự hiện diện của ANA. Bên cạnh giá trị chẩn đoán và tiên lượng biến chứng VMMTM ở trẻ em VKDTTE, kháng thể kháng nhân không có giá trị đánh giá chức năng vận động khớp và tiến triển của bịnh cũng như đánh giá hoạt tính của bịnh. Kết quả ghi nhận trong nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nhận định của một số tác giả (1.10), hiệu giá của ANA giao động trong quá trình điều trị nhưng hiếm khi sử dụng hiệu giá của ANA để tiên đoán tính hoạt động của bịnh (10).