(ÐÁI THÁO ÐƯỜNG)
Mai Thế
Trạch *
Bệnh đi-a-bét
(Diabetes mellitus), hay đái tháo đường,
đãû được nói đến từ ngàn năm trước công nguyên.
Còn insulin(1921) và các thuốc giảm đường huyết (từ sau
1945) rất có hiệu quả trong việc điều trị đi-a-bét lại chỉ
có một lịch sử không quá 70 năm. Ðể chữa bệnh nói chung,
và bệnh đi-a-bét nói riêng, người ta bắt buộc phải tìm ra
một cách nào đó. Ðấy là nguyên nhân ra đời của y học
cổ truyền.
Ở thời đại khoa học
hiện ngày nay, vì lý do kinh tế - xã hội hay tôn giáo (isulin
điều chế từ tụy heo, bò bị tẩy chay ở một số nước), y
học cổ truyền vẫn còn phổ biến ở một số nơi tại Âu châu
và nhất là tại các nước nghèo của Châu Phi và Châu Á.
Tác dụng hạ đường huyết trong các cây thuốc được
nói đến là amelin, rehmanin, chất giống insulin (insulin - like),
indol alkaloid và charantin (?).
Các cây thuốc được dùng rất nhiều để điều trị đi-a-bét
ở châu Á phải kể đến Momordica charantia (Cucurbitaceae) và
Trigonella foenum graecu, (Papilionaceae). Tại Việt Nam mới chỉ có hai
công trình nhỏ về tác dụng của Momorrdica charantia (Cucurbitaceae)
và rau dừa nước [Jussiaea repens L. (Onagegraccae)].
Có 21 họ thảo mộc với 20 loại cây thuốc để điều trị
đi-a-bét đã được thống kê. Ðôi khi một số bộ phận hoặc
sản phẩm động vật cũng được sử dụng. Y học cổ truyền
Trung Quốc cũng còn dùng châm cứu, nhĩ châm (auriculopuncture)
điều trị đi-a-bét.
Nhiều cây thuốc có tác dụng hạ đường huyết còn chưa
được nghiên cứu kỹ. Tác dụng hạ đường huyết của chún
chắc chắn không thể so sánh với các loại thuốc kinh điển.
Nhưng chúng có ưu điểm là rẽ tiền, ít độc hay không độc,
nguyên liệu lại dồi dào, phù hợp với tình hình kinh tế các
nước đang phát triển.
Mai
Thế Trạch* Y học Ho Chi Minh, 1996, N0. Special : 13 - 19.
Diabetes mellitus has been
evoked about since thousands of year B.C., but the two drugs proved to be very
effective in treating it dated from no moer than 70 year : insulin )discovered
in 1921), and oral hypoglycemic agents (on the market only after 1945). Without
specific drugs, one way or another must be found out to treat diseases mellitus
included. That in the reason why traditional medicine exists.
During this modern scientific
period, traditional medicine remains popular in some regions of Europe and
especially in under - developed African and Asian countries, due to socio -
economic orreligous background (insulin extracted from the pancreas of cows and
pigs is prohibited in some countries).
The presumed hypoglycemic principles of some plants have been mentioned,
for example: ameline rehmain, an
insulin - like substance, a kind of indol alkaloid and charantin (?).
The plants the most widely used in Asia to treat diabetes mellitus is the
bitter melon (Momordico charantia. Cucurbitaeae) and Trigonella foenum graecum
(Papilionaceae). In Vietnam there are only two small studies about the effect of
Momordica charantia and a kind of plant lived in water named Jussiaea repens L.
(Onagraceae).
There are 21 herbal families with more than 20 plants to treat diabetes
already classified. Sometimes animal organs or extracts have been used. Chinese
traditional medicine have been trying to treat diabetes by acupuncture or
auriculopuncture. So far many hypoglycemic compounds
from plants remain improperly studied ; their hypoglycemc effects may not be as
those of conventional hypoglycemic agents but they have the advantages or being
less expensive, less toxic or non toxic, easy to produce in great amounts anf
thus fit well for the low economic standard of developing countries.
MỞ
ÐẦU.
Những thứ thuốc có hiệu quả để điều trị bệnh đái
tháo đường (Diabetes mellitus), mà chúng tôi đề nghị gọi là
bệnh đi -a - bet, có một lịch sử không lâu đời lắm. Thực
vậy, mãi đến những năm 20 của thế kỷ này (1921) insulin mới
được phát minh bởi Banting &Best ở Canada. Còn các thuốc
uống như sulfonyl - ure hạ đường huyết và biaguanid hạ
đường huyết thì chỉ mới được sử dụng không quá 50 năm.
Tuy nhiên bệnh đi-a-bét thì đã được nói đến từ ngàn xưa
(trong papyrus Ebers 1500 trước công nguyên). Vì thế trong cuộc đấu
tranh để sinh tồn con người đã biết sử dụng một số phương
pháp nào đó để chống lại bệnh này, dù rằng bản chất của
nó người ta hoàn toàn chưa biết. Ðó là hoàn cảnh ra đời
của Y học cổ truyền nói chung, đặc biệt là các cây thuốc
và bệnh đi-a-bét nói riêng.
Trong thời đại khoa học tiến bộ ngày nay, ở nhiều nơi
trên thế giới, vì lý do kinh tế, tôn giáo (insulin điều chế
từ tụy tạng heo, bò không được dùng ở một số nước)
hay một lý do nào khác người ta vẫn tiếp tục dùng Y học cổ
truyền.
TÍNH
PHỔ BIẾN CỦA Y HỌC CỔ TRUYỀN
Ðể điều trị bệnh đi-a-bét, một bộ phận nhỏ trong nhân
dân châu Âu, Trung Cận Ðông, châu Phi, Bắc và Nam Mỹ vẫn còn
đang dùng các cây thuốc như : (Bảng 1).
|
TÊN
NƯỚC |
TÊN CÂY THUỐC
|
TƯ
LIỆU |
|
Châu Âu : Ba
Lan Rumani |
Diabetosan 1.
Morus alba, cây dâu tằm. 2.
Myrtillis. 3.
Phasoleus, Sine Sinebus (một cây họ dâu |
IDF Directory 1991/94 IDE Directory 1991/94 |
|
Trung Cận Ðông : Israel |
1.
Hilbe 2.
Atriplex |
IDE Directory 1991/94 |
|
Châu Phi : Arập XêutNam
Phi Nigiêria |
Lobia Chương
trình cây thuốc để điều trị đi-a-bét đang được nghiên
cứu Chương
trình cây thuốc đề điều trị đi-a-bét đang được nghiên
cứu |
IDE Directory 1991/94 IDE Directory 1991/94 IDE Directory 1991/94 |
|
Bắc Mỹ & Nam Mỹ : ChilêPêru Poóctô Ricô |
Pata
de Vaca Arcampuri Momordica
charantia, cây khổ qua |
IDE Directory 1991/94 IDE Directory 1991/94 GS.
Ðỗ Tất Lợi |
Ngoài
những nước kể trên, cây thuốc đang còn rất phổ biến ở
các nước Á châu để điều trị bệnh đi-a-bét.
Tác dụng hạ đường huyết của các cây thuốc cổ truyền
tất nhiên không thể so sánh với cây thuốc insulin, sulfonyl -
urê hay biguanid mà chúng ta được biết.
Thực ra các cây thuốc này chưa được nghiên cứu nhiều.
Mối quan tâm của các nước có khoa học kỹ thuật tiên tiến
là phát hiện thêm các thuốc mới có hiệu quả mạnh hơn trên
cơ sở các loại đã có sẵn. Vì vậy nên mới có thêm các
sulfonyl - urê hạ đường
huyết thế hệ II (Daonil, Diamicron, Minidiab,. ) và các loại
insulin giống insulin người được tổng hợp hoàn toàn trong các
phòng thí nghiệm (HM. Insulin).
Còn các nước kinh tế kém phát triển không có tiền
để mua các loại thuốc, mà hiệu quả đã được công nhận,
thì cũng lại không có khả năng khoa học kỹ thuật, cũng như
kinh phí để nghiên cứu các cây thuốc mới.
Cho nên trong số rất ít các hoạt chất gây hạ đường
huyết trong các cây thuốc đã biết, chỉ có một loại chất
giống insulin (insulin - like) là có thể giải thích được cơ
chế mà thôi.
Tác dụng hạ đường huyết của các cây thuốc cổ truyền
là một lãnh vực nghiên cứu phong phú nhiều hứa hẹn. Mặc
dù chưa có ngay ứng dụng lâm sàng hay hiệu quả kinh tế, nhưng
rất có giá trị về phương diện học thuật. (Bảng 2).
Ðông Y quan niệm rằng
bệnh đi-a-bét có nhiều nguyên nhân : ăn uống không biết điều
tiết, lao lực quá độ, thần kinh căng thẳng (?). Ðiều trị
chủ yếu chữa từ phế, tỳ, thận là những cơ quan có chức
năng chuyển hóa và điều tiết. Ðông y có khi chỉ nhắm làm
giảm một triệu chứng nào đó, thí dụ tác dụng giảm khát
(tiêu khát) của một cây thuốc : đậu Cowpea, trái mận chưa chín
(xanh) hun khói, mướp trắng như ta thấy ở phần dưới.
Tại châu Á những nước có một dân số khổng lồ, có
nền văn hóa cổ danh tiếng như Trung
Hoa, Ấn Ðộ thì y học cổ truyền rất phong phú, đa dạng và
được dùng rất phổ biến, nhất là ở những nơi xa thành
phố (Bảng 3 và 4).
|
Hoạt
chất gây hạ đường huyết |
Có
trong cây |
Tác
giả |
AmelinDùng
cho cả đi-a-bét có nhiễm toan |
Cam
thảo nam (Herbra scopariae. Scrofulariacea) |
Ấn
Ðộ |
Hoạt chất giống insulin |
Chua
me (Biophytum sinsitivum Lour) Dừa cạn (Vinca rosea L.) |
Garcia
E & Garcia F (1944) Philippin2 |
Rehamin |
Sinh
địa (Rehmania glutinosa
Gaertn.) |
Nhật
(1930 - 35)2 Georges Gabriel R. (1945)2 |
Indol alkaloid |
Kopsia
arborea BI. |
1 |
Charantin (?) |
Khổ
qua |
3 |
IDF. Directory
1991/941
"Những cây
thuốc và vị thuốc VN" Ðỗ Tất Lợi (NXBKH& KT Hà Nội
1977)2
Cai Jingfeng 19883
|
Trung Quốc |
Tư liệu |
||
|
1. Bạch thược
(rễ) |
Radix Paeoniae
Alba |
Ranunculaceae |
IDED19941 |
|
2. Cát cánh
(rễ) |
Radix Platycodi |
Campanulaceae |
IDED 19941
|
|
3. Ðảng sâm
(rễ) |
Radix
Codonopsis |
Campanulaceae |
IDED19941 |
|
4. Nhân sâm
(rễ) |
Radix Ginseng |
Araliaceae |
IDED19941 |
|
5. Hoàng kỳ
(rễ) |
Radix
Astragali |
Papilionaceae |
IDED19941 |
Tại Việt Nam,
theo sự ghi nhận của chúng tôi, chưa có các tổng kết về các
cây thuốc dùng trong bệnh đi-a-bét
được công bố cho tới nay. Lẻ tẻ có được nêu :
-
Cây khổ qua được nghiên cứu dưới dạng thuốc
viên, trà uống (+ lá đa [ficus eiastica] của Trung tâm điều trị
& Nghiên cứu y dược học chẩn trị dân tộc).
-
Cây chuối hột theo kinh nghiệm dân gian cũng có
tác dụng (?) trong bệnh ÐTÐ.
-
Cây rau dừa nước 4 (Dulana của XNDPTW. 26).
-
Cây XYZ (?).
Bảng 4:
|
Tây
A1 và Nam Á |
Tư
liệu & ghi chú |
||
|
Pakistan : 1.
(?) 2.
Ômôi 3.
Vối rừng 4. Khổ qua |
Acacia
Arabica Willd Cassia Fistula Lin. Eugenia
Jambolana Lin. Momordica
Charantia Lin. |
Mimossaceae
Caesalpinaceae Myrtaceae Cucurbitaceae |
IDF.
Direct
Ory/94 |
|
Bangladesh 1.
Khổ qua 2.
Hồ lô ba 3.
(?) |
Momordica Charantia Trigonella
foenum Coccinia
Indica |
Cucurbitaceae Papilionaceae Cucurbitaceae |
Tên khác :
Karala/bitter melon Tên khác :
Methi Tên khác :
Telakucha |
NHỮNG HỌ THẢO MỘC THƯỜNG DÙNG TRONG ÐI-A-BET.
Trong
bản sơ kết này, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, chúng ta ghi
nhận là có tới 21 họ với trên 20 loại cây cỏ đã
được dùng điều trị bệnh đi-a-bét. Trong số này thì cây khổ
qua và cây hồ lô ba được dùng khá phổ biến ở trên thế
giới : (Bảng 5).
CÁC PHƯƠNG
PHÁP KHÁC.
1.
Côn trùng & bộ phận cơ thể động vật :
Ðôi
khi côn trùng hoặc bộ phận cơ thể động vật cũng được sử
dụng trong y học cổ truyền. Ở Trung Quốc là nơi có nghệ thuật
nấu ăn cao, y học cổ truyền còn được chấp nhận dưới dạng
đồ ăn hay thức uống. Ðiều này cũng phù hợp với khái
niệm trị liệu bằng tiết chế (Dietotheraphy) hiện đại, đặc biệt
là trong bệnh đi-a-bét (bảng 6).
Bảng 5. Các họ thảo mộc dùng điều trị đi-a-bét
|
STT |
HỌ/BỘ |
TÊN
CÂY THUỐC |
|
1 |
Apocynaceae Họ trúc đào |
Dừa cạn
: Catharanthus roseus L.G. Don Vinca rosea L., Lochnera rosea Reich |
|
2 |
Araliaceae Họ nhân sâm |
Nhân sâm
: Panax gingseng
(ginseng) Mey. |
|
3 |
Caesalpiniaceae Họ Vang |
Cây ô
môi : Cassia fistula
Lin. |
|
4 |
Campanulaceae Họ Hoa Chuông |
Cát cánh
: Platycodon
grandiflorum DC |
|
5 |
Compositae Họ Cúc |
Ngưu bàng
: Arctium lappa L. Thương
truật : Atractylodes lancea (Thunb) DC |
|
6 |
Convolvulaceae Họ Bìm bìm |
Khoai lang |
|
7 |
Cruciderae Họ Cải |
Cải soong
: Nasturtium
officinale R. Br. Roripa nasturtium aquaticum Hayek |
|
8 |
Curcurbitaceae Họ Bầu Bí |
Khổ qua,
mướp đắng : Momordica
charantia Linn. |
|
9 |
Dioscoreaceae Họ Củ Nâu |
Hoài sơn,
Khoai mài, củ mài : Diascorea
persimilis Prain & Burk (Diascorea oppositifolia Lour.) Khoai mỡ tàu |
|
10 |
Leguminosa Bộ Ðậu |
Ðậu
cowpea |
|
11 |
Mimosaceae Họ Trinh Nữ |
Accia
Arabica (Willd) |
|
12 |
Moraceae Họ Dâu tằm |
Cây dâu
tằm : Morus alba L. |
|
13 |
Myrtaceae Họ Sim |
Cây vối
vừng : Eugenia jambolana Lam Myrtillis |
|
14 |
Ocenotheraceae Họ Rau Dừa
Nước Onagraceae |
Rau dừa
nước : Jussiaea
repens L. (Cubospermum
palustre Lour.) |
|
15 |
Oxalidaceae Họ Chua Me
Ðất |
Chua me, lá
me : Biophytum sinsitivum (Lour) DC Oxalis
sinsitiva Lour , Biophytum candol leanum Wight). |
|
16 |
Papilionaceae Họ Ðậu |
Phasoleus (phaseolus), Sine sinebus Hoàng kỳ
: Astragali |
|
17 |
Ranunculaceae Họ Hoàng
Liên |
Bạch thược
: Paeoniae
alba. |
|
18 |
Rosacea Họ Hoa Hồng |
Trái mận xanh (chưa chín) |
|
19 |
Rubiaceae Họ Cà Phê |
Nhàu : Morindia citrifolia L. |
|
20 |
Solanaceae Họ Cà |
Kỷ tử,
khởi tử : Lycium sinense Mill. (Lycium barbarum L. Var. sinense
Ait.) |
|
21 |
Scrofulariacieae Họ Hoa Mõm
Sói |
Cam thảo
nam : Herbra
scopariae Sinh địa : Rehmannia glutinosa (Gaertn.) Liboseh Digitalis glutinosa |
|
|
Cách dùng |
Tư liệu |
|
Sữa
ngựa 125ml |
Uống
ngày 2 lần sữa đun sôi |
Cai
Jinfeng3 |
|
Dạ
dày heo 500g |
Nấu
với gạo làm một loại cháo đặc để ăn |
Cai
Jinfeng3 |
|
Tụy
heo |
Nấu
với khoai mỡ tàu và trichosanthes (?) để ăn |
Cai
Jinfeng3 |
" Eating Your Way to Health -
Dietotherapy in Traditional Chinese Medicine." Foreing Languages Press Beijing
19883
Còn có thể dùng (Cai Jingfeng 1988.) "trà" hãm bằng :
-
Lá khoai lang (Convolvulaceae) + vỏ mướp trắng
(Cucurbitacea).
-
Trái mận còn xanh (Rosacea) hun khói.
-
Búp ổi và quả ổi phơi khô nghiền nhỏ. (Ðài Bắc,
một vài trường Y ở Nhật).
Hoặc
ăn :
-
Bánh làm bằng khoai mỡ tào (Chinese yam. Dioscoreacea)
thêm bột mì, hạt dẻ, quả khôi.
-
Cháo đậu (Cowpea. Leguminosa) cả vỏ.
Ðông
Y còn dùng phân tằmg, tàm sa, (Faeces bombycum. Excrementum bombycis) nhưng
không rõ cách dùng và tác dụng như thế nào ?
2.
Châm cứu 5,6 :
Nói đến y học cổ truyền không thể không đề cập đến châm cứu. Y văn chắc chắn là phong phú, nhưng cho đến nay chúng tôi mới chỉ tìm được 1 tài liệu có nói đến điều trị đi-a-bet típ II (không phụ thuộc insulin) bằng châm cứu : (Bảng 7).
Bảng
7.
|
Phương
pháp |
Huyệt |
|
Nhĩ
châm (Liệu
pháp loa tại LPLT) |
11
huyệt : Thận,
bàng quang, tụy, mật, dạ dày, lách, tam tiêu, nội tiết,
thương thận, thần môn tai, dưới đồi. Chọn châm 3 - 5 huyệt mỗi lần |
|
Thể
châm kết hợp (nhĩ châm + châm cứu kinh điển) |
9
huyệt : (Nh
= mạch Nhâm TTi = Tam tiêu BQ
= Bàng quang) Trung
quản (Nh12), Dương trì (TTi 4), Thái xung (can 3), tỳ du (BQ 20),
Thận du (BQ 23), Tam tiêu du (BQ 22), Cách du (BQ 17), Quan nguyên
(Nh 4), Túc tam lý (Vị 36). Chọn 2 - 4 huyệt mỗi lần, luân phiên |
Bản
đồ phân vùng loa tai
Huyệt
ở phía trong
KẾT
LUẬN
Rất nhiều cây thuốc cổ truyền có chứa một/nhiều tác
nhân làm hạ đường huyết, nhưng đa số các cây thuốc này
chưa được nghiên cứu kỹ. Tác dụng hạ đường huyết tất
nhiên không thể bằng các thuốc kinh điển nhưng có các ưu điểm
là rẻ tiền, ít độc / không độc, nhiều và dễ kiếm (trừ
nhân sâm). Có thể chỉ định cho các bệnh nhân đi-a-bét típ
II nhẹ :
-
Ở xa thành phố.
-
Chưa có biến chứng.
-
Không có điều kiện trị bệnh bằng các thuốc kinh
điển.
Nghiên
cứu cây thuốc cổ truyền trong bệnh đi-a-bét (Diabetes mellitus)
ở nước ta là điều nên làm vì Việt Nam là một nước
nghèo và bệnh đi-a-bét đang có chiều hướng gia tăng ở VN
cũng như ở Châu Á.
Ghi
chú : Trong bài chúng tôi dùng danh từ bệnh đi-a-bét
thay cho đái tháo đường hay tiểu đường vì tính chất quốc
tế và phổ biến của nó. Các nước mà chữ viết đã
latinh hóa đều dùng từ đi-a-bét để ám chỉ bệnh đái tháo
đường (Diabetes mellitus) mặc dù cách đọc, đôi khi có thay đổi.
Trong tiếng Anh "diabectic", tiếng Pháp "diabetique" đều ám
chỉ người bị bệnh đi-a-bet hay vấn đề có liên quan đến bệnh
đó chứ danh từ đó không dùng để chỉ bệnh đái tháo nhạt
(diabètes insipidus) hay đái tháo dường do thận (diabète rénal)
là những bệnh rất ít gặp nên không sợ gây hiểu lầm. Tại
sao chúng ta có thể gọi bệnh
AIDS mà gọi là bệnh đi-a-bét thì lại không được ?
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1.
INTERNATIONAL DIABETES FEDERATION [IDF] (1991 & 1994).
Directory.
2.
ÐỖ TẤT LỢI (1977). Những cây thuốc và vị thuốc
Việt Nam. Nhà xuất bản KH&KT Hà Nội.
3.
CAI JINGFENG (1988). Medicinal Foods for Common Diaseases.
Diabetes mellitus. In : Eating Your Way to Health - Dietotherapy in
Traditional Chinese Medicine 52 - 53. Foreign Languages Press. Beijing.
4.
TRẦN THỊ KIM HIẾU (1989). Báo cáo tóm tắt kết quả
sử dụng chế phẩm cây rau dừa trong điều trị bệnh đái tháo
đường. Phân viện Dược liệu TPHCM Bộ Y tế (Báo cáo in ronéo).
5.
PHẠM VĂN CỰ, PHẠM QUANG MINH (1994). Bệnh Nội tiết,
trang 203 - 204. In : Liệu Pháp Loa Tai (Châm Loa Tai). Nhà xuất bản
Yh ọc. Chi nhánh TPHCM.
6.
BÙI QUANG HIẾN, HOÀNG BẢO CHÂU (1984). Châm Loa Tai.
In : Châm cứu học. Viện Ðông Y 345 - 354. Nhà xuất bản Y học
Hà Nội.
7.
ZIMMET P., MCCARTY D. (1995). The NIDDM Epidemic : Global
Estimates and Projections - A Look into the Crystal Ball. IDF. Bulletin volume
40 : 8-16.