TỔNG QUAN VỀ CHỌC RÚT NƯỚC ỐI

Nguyễn Thị Diễm Vân* Lê Văn Ðiển*

   

TÓM TẮT :

            Lần lượt lịch sử, các cách phân loại, kỹ thuật và các tai biến của chọc rút nước ối được trình bày.Bài tổng quan kết thúc bằng một số ý kiến về việc thực hiện chọc rút nước ối tại TP Hồ Chí Minh. Ðể nâng cao ngành Sản khoa của chúng ta thêm một bước, đã đến lúc chúng ta cần tổ chức chọc rút nước ối trong điều kiện an toàn hơn và cũng đã đến lúc chúng ta cần cấy tế bào nước ối để khảo sát bộ nhiễmsắc thể thai nhi.

 AN OVRVIEW ON AMNIOCENTESIS

Nguyễn Thị Diễm Vân - Lê Văn Ðiển * Y học TP. Ho Chi Minh, 1996, N0. Special :  2  - 8

 

SUMMARY

            The history, the different classifications, techniques and complications of amniocentesis were reviewed. The overview ended with recommandations from the authors for the practice of amniocentesis in Ho Chi Minh City. Indeed, it is advisable that amniocentesis beperformedin strict conditions and thatamniotic fluid cells be culturred and analyzed forprenatal ends.

 I.        ÐẠI CƯƠNG

Chọc nướt rút nước ối (amniocentesis) là thủ thuật đâm kim vào buồng ối để rút nước ối.

A.    Lịch sử chọc rút nước ối :

PROCHOWNICK [46] ghi nhận chọc rút nước ối (CRNO) đã được thực hiện từ đầu thế kỷ XIX để điều trị một số trường hợp đa ối.

Trong những năm đầu của thập niện 1930, qua kim CRNO, MENEES, MILLER và cộng sự [35] bơm chất cản quang vào buồng ối, thực hiện những trường hợp chụp buồng ối có cản quang đầu tiên. Cũng trong thập niên này CRNO được dùng để đánh giá mức độ trầm trọng của bất đồng nhóm máu Rhesus mẹ-con và để truyền máu (theo LILEY [33]).

Tuy nhiên phải đến thập niên 1960 trở đi, CRNO mới được thực hiện rộng rãi :

-         1960 : RIIS và FUCHS [47] là những người đầu tiên đề nghị lấy tế bào nước ối để chẩn đoán phái tính và ngăn ngừa các bệnh lý di truyền do phái tính.

-         1966 STTEELE và BREG [53] chứng minh nước ối ở người có chứa một số tế bào còn sống, các tế bào này nếu cấy sẽ có khả năng sinh sản, phát triển với lượng đủ để làm tiêu bản nhiễm sắc thể.

-         Tiếp sau đó, năm 1966 THIEDE, CREASMAN  và cộng sự [59] ; năm 1967  JACBSON và BARTER [26] ; năm 1967 VALWNTI và KERATY [60] lấy tế bào nước ối để cấy và khảo sát các bất thường nhiễm sắc thể thai nhi.

-         Năm 1968 NADLER [40], 1970 NADLER và  GERBIE [39]; 1970 NELSON và EMERY [41] lấy tế bào nước ối để cấy và chẩn đoán một số các bệnh biến dưỡng di truyền ở thai nhi.

                  Ở Pháp, CRNO với mục đích chẩn đoán tiền sản được thực hiện đầu tiên năm 1972. Ðến năm 1977 thì được công nhận là phương pháp chẩn đoán tiền sản chính cho những cặp vợ chồng có nguy cơ sanh con có bệnh về nhiễm sắc thể. Cũng kể từ năm này Quỹ quốc gia bảo hiểmY tế Pháp chịu mọi chi phí chẩn đoán cho những trường hợp mang thai cần đựoc CRNO để cấy và làm tiêu bản nhiễm sắc thể.

 

B.     Phân loại :

·         Năm 1985, dựa trên thời điểm thực hiện, CRNO được VIALARD, LE MAREC và cộng sự phân loại như sau [61] :

1.      CRNO sớm :

Ðược thực hiện trong tháng giữa của thai kỳ ở các thai phụ có nguy cơ  sanh con bị sai lạc nhiễm sắc thể.

2.      CRNO muộn :

Ðược thực hiện trong 3 tháng cuối thai kỳ, cho phép theo dõi diễn tiến của bất đồng nhóm máu ở thai nhi, cho pháp nhận diện suy thai, cho phép đánh giá độ trưởng thành của thai nhi trong tử cung,.

3.      CRNO có định hướng :

Thường được thực hiện ở nửa sau của thai kỳ. Thầy thuốc nghĩ đến bất thường nhiễmsắc thể thai nhi do những dấu hiệu lâm sàng gợi ý như thai kém phát triển trong tử cung, đa ối, thiểu ối.

·         Ðến năm 1992, GAUCHERAND, GERMAIN  và các cộng sự [11] thấy cần cập nhật cách phân loại trên như sau :

1.      CRNO sớm :

Thường được thực hiện ở tuổi thai 16 - 18 tuần vô kinh (TVK), thời điểm mà số lượng tế bào bong ra đủ để cấy. Ở thời điểm nay tỷ lệ khối lượng nước ối / khối lượng thai tối ưu, đủ để CRNO mà không gây tổn thương thai nhi. Ngoài ra sau 17 TVK sự "chọn lọc tự nhiên" trở nên hiếm và những trường hợp sảy thai tự nhiên do bất thường nhiễm sắc thể không còn nhiều như  trước.

2.      CRNO muộn :

Ðầu tiên được đề nghị để điều trị những trường hợp đa ối cấp. CRNO muộn được chỉ định cho 2 nhóm :

-         Chẩn đoán tiền sản cho những trường hợp ống thần kinh không khép và nhất là những trường hợp trên siêu âm có những dấu chứng nghi ngờ có sai lạc nhiễm sắc thể ;

-         Ðánh giá tình trạng "sức khỏe" thai nhi, mức độ trưởng thành thai nhi trong một số bệnh lý sản khoa như tiền sản giật, bệnh tự miễn.

3.      CRNO cực sớm :

Như trên đã nói, "CRNO sớm" thường được thực hiện ở tuổi thai 16 - 18 TVK vì các nghiên cứu đầu tiên cho thấy nếu chọc rút sớm hơn tỷ lệ chọc rút "trắng" (không rút được nước ối) sẽ cao. Và vì CRNO được hiện ở tuổi thai 16 - 18 TVK, kết quả thường được trà lời về khi thai đã khá lớn (20-22 TVK) nên đã có những trung tâm muốn "tranh thủ thời gian" bằng cách lấy gai nhau để khảosát. Nhưng diễn giải tế bào  di truyền học trên tế bàogai nhau thường khó khăn hơn là với tế bào nước ối sau khi nuôi cấy.

Với kỹ thuật siêu âm ngày càng tiến bộ, hiện đã có những cố gắng để thực hiện "CRNO cực sớm" và"CRNO cực sớm" được định nghĩa là những trườnghợp CRNO ở tuổi thai bé hơn 16TVK. Tuy nhiên những kết quả ban đầu của HANSON, TENNANT và các cộng sự [19] cho thấy nguy cơ hư thai khi thực hiện "CRNO cực sớm"có gia tăng.

·         Còn nếu dựa trên yếu tố kỹ thuật , về mức độ sử dụng siêu âm khi làm thủ thuật, CRNO được chia ra làm 3 loại :

1.      Chọc rút "mù"  (blind puncture).

2.      Chọc rút sau siêu âm.

Thai phụ được siêu âm để được định vị trí sẽ chọc rút, đánh dấu và sau đó mới được chọc rút nước ối.

3.      Chọc rút dưới kiểm tra liên tục của siêu âm.

Cho đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi về lợi ích của CRNO dưới siêu âm liên tục. Và mặc dù không có sự giảm rõ rệt bệnh xuất thai nhi, nhưng ROMERO, JEANTY và cộng sự [48] nhận thấy có sự giảm rõ rệt tỷ lệ chọc rút thất bại, tỷ lệ mẫu lẫn máu và tỷ lệ những lần phải đâm kim lần 2. Ngoài ra về lợi điểm của CRNO dưới siêu âm liên tụccũng phải kể thêm sự an tâm của người mẹ biết chắc rằng con mình không bị kim đụng phải và phải kể thêm người làm thủ thuật hiệu được tại sao đâm kim đủ sâu nhưng không rút được nước ối (cơ tử cung co thắt, màng ối chưa bị xuyên thủng mà bị đội lên).

Ðầu dò được dùng ở đây có thể là đầu dò có rãnh dùng chuyên cho chọc rút hay đầu dò thường. Riêng JONATHA, SCHMIDT và cộng sự [29], HOLZGREVE và HANSMAN [25] thì đều thống nhất không nên chọc rút mù cũng không nên dùngđầu dò có khe cố định mà nên thực hiện CRNO dưới siêu âm liên tục và dùng đầu dò thường.

II.          KỸ THUẬT CRNO

A.    CRNO sớm :

Kỹ thuật đã được chuẩn hóa rõ đối với CRNO sớm [11].

·         Trước tiên cần siêu âm để kiểm tra lại về số lựong, tim thai, hình thái học thai,vị trí bánh nhau, lượng nước ối. Ðịnh vị trí sẽ đâm kim trên bụng mẹ.

·         Trong phần lớn các trường hợp, thủ thuật phải được thực hiện dưới sự quan sát bằng siêu âm liên tục và trong điều kiện vô trùng. Bàng quang phải trống. Kim được dùng là kim có nòng thường dùng để chọc dò tủy sống, 20 gauge (đường kính 0,9mm). Lượng nu71c ối rútra là 20 - 30 cm3, phải được gởi đến phòng thí nghiệm di truyền học và sinh học trong vòng 12 tiếng.

·         Sau khi rút nước ối kiểm tra lại tim thai và tiêm anti - D g globulin nếu thai phụ Rhesus âm. Thai phụ được khuyên nghỉ ngơi trong 24 - 48 tiếng và dùng thuốc giảm co nếu có cơn co tử cung.

Ðể có thể thực hiện thủ thuật ở tuổi thai sớm hơm, trong điều kiện an toàn hơn và có kết quả sớm hơn, SUNDBERG, SMIDT - JENSEN và cộng sự [55] đề nghị cho nước ối đi qua một màng lọc, giữ lại tế bào để nuôi cấy và bơm trở lại nước ối vào buồng tử cung.

B.     CRNO muộn [9] :

Kỹ thuật ở đây khó hơn, đo lượng nước ối ít hơn so với khối lượng thai. Ðó là chưa kể trường hợp có thiểu ối. Vị trí chọc rút được chọn  sẽ tùy thuộc vào các dữ kiện siêu âm,tuy nhiên vị trí trường được chọn nhất là vị trí trên vệ trong điều kiện bàng quang trống và đầu thai nhi được đẩy lên. Một vị trí khác có thể được chọn là khoang ối sau gáy thai nhi : vị trí này được chọn nếu đầu thai đã ghim xuống tiểu khung, không còn đẩy lên được. Vị trí quanh rốn ("tam giác thai") ngày nay chỉ còn được sử dụng trong vài trường hợp thật đặc biệt như thiểu ối.

Ðối với CRNO muộn, nhất là khi chọc rút ra máu, nên cho thai phụ nằm viện khoảng 48 tiếng để được theo dõi tim thai.

C.    CRNO cực sớm :

Do tế bào thai nhi không bong trước 10 TVK và do các màng ối chưa dính lại với nhau nên HANSON, ZORN và cộng sự [20] khuyên chỉ nên thực hiện CRNO cực sớm sau 12 TVK.

Ðường vào là đường bụng nhưng đườngâm đạo cũng không phải làchống chỉ định [51].

Thủ thuật phải được thực hiện dưới siêu âm liên tục và nước ối phải được rút ra từ từ để tránh làm xẹp túi thai [20,54]. Lượng nước ối tối đa được rút là 1ml nước ối cho mỗi tuần vô kinh [7].

Khi có nghi ngờ chọc rúat phải nước tiểu thì có thể dùng que thử để tìm đường và albumine vốn là thành phần của nước ối và bình thường không có trong nước tiểu.

D.    Các tình huống cần cải biên kỹ thuật :

1.      Vị trí bánh nhau ở mặt trước tử cung :

Theo KAPPEL, NIELSEN và các cộng sự [30] nguy cơ hư thai gia tăng nếu đâm kim qua bánh nhau. Tuy nhiên theo HANSMAN, HACKELOER và cộng sự [18] trường hợp bánh nhau ở mặt trước tử cung thì vẫn có thể đâm quabánh nhau để lấy nước ối, không nên cố  "lách", và "đi" kim những đường không trực tiếp có thể làm tổn thương ruột và làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn. Nhưng các tác giả cũng lưu ý là ở đây nên dùng kim có khẩu độ nhỏ (0,7mm) thì sẽ tránh được các tai biến và biến chứng. HARVEY và LEVINE [22] cũng đồng quan điểm trên và còn cho biết là không có sự gia tăng tỷ lệ hư thai đối với thai nhi nếu dùng kim có khẩu độ nhỏ đâm qua bánh nhau.

2.      Song thai :

Cần tham vấn kỹ trước khi thực hiện CRNO ở song thai vì bản thân song song thai đã là một thai kỳ có nguy cơ.

·         Phương pháp kinh điển [1}  :

Siêu âm tìm màng ngăn cách giữa 2 thai, sau đó định vị trí chọc rút ối cho túi thai thứ nhất.  Sau khi thực hiện rút ối ở túi thai thứ nhất, bơmvào túi thai này 0,5 ml phẩm carmine indigo hay đỏ congo để đánh dấu. Khi rút nước ối ở túi thứ 2, nếu nước ối không nhuộm  màu thì có nghĩa là thật sự chúng ta rút nước từ một túi ối khác biệt với lần rút đầu. Không nên dùng xanh methylene [34]  vì đã có những báo cáo về nguy cơ tán huyết [13] và nguy cơgây teo hẹp ruột [44] ở thai nhi.

·         Phương pháp "đâm kim một lần" (single puncture technique") : Ðược BAHADO - SINGH, SCHMITT và cộng sự [4] đề xuất năm 1992.

Là phương pháp đâm kim một lần duy nhất qua thành bụng. Sau khi rút nước ối từ túi ối thứ nhất, đâm kim tiếp tục qua màng ngăn cách giữa 2 thai để vào túi ối thứ 2 và rút nước ối từ túi ối thứ 2.

Phương pháp này cần được đánh giá thêm vì có những tác giả [13] đã ghi nhận một số bất thường năng của thai nhi sau khi màng ngăn cách giữa 2 thai bị thủng.

III.       TAI BIẾN VÀ BIẾN CHỨNG

A.    Tai biến và biến chứng gặp trong CRNO sớm :

·         Chọc rút thất bại - Chạm thương mạch máu :

Theo BOUE, MORER và các cộng sự [3], GOLBUS, LOUGHMAN và các cộng sự [15], tỷ lệ thất bại và chạm thương sẽ bớt dần khi người thầy thuốc quen dần với thủ thuật.

Còn theo NISAND, DURAND và cộng sự[43], tỷ lệ chọc rút thất bại sẽ giảm chỉ còn dưới 1% và tỷ lệ chạm thương mạch máu (rút ra nước ối lẫn máu) sẽ giảm chỉ còn khoảng 2% nếu thủ thuật được thực hiện dưới siêu âm [21].

·         Nguy cơ đốivới thai nhi :

Nguy cơ hư thai trước 28 TVK cho nhóm có được CRNO sớm là 3,5 % [42]  so với nhóm chứng là 3,2%. Như vậy tỷ lệ hư thai trước 28 TVK do bản thân thủ thuật CRNO sớm là 0,3 - 0,7% [6, 23, 57].

Nguy cơ chạm thương thai nhi rất hiếm nếu tuân thủ đúng kỹ thuật. Dù sao trong y văn cũng đã kể đến trường hợp hoại tử quai ruột non [32], teo hẹp ruột [58], nghẹt ruột [56], mù mộtbên mắt [36], đứt gân gót chân [8], hội chứng dải sợi ối [2, 38, 45] hoại tử cánh tay [32], đoạn chi [45].

·         Nguy cơ đối với mẹ :

Các tổn thương do thủ thuật gây nên cho mẹ cũng rất hiếm.Có thể kể máu tụ thành bụng [16], nhiễm trùng ối [63], rỉ ối [23, 42, 52], đâm trúng bàng quang [57].

B.     Tai biến và biến chứng gặp trong CRNO muộn :

·         Chọc rút thất bại :

Chọc rút nước ối thất bại có thể do người làm thủ thuật thiếu kinh nghiệm, có thể do "chọc mù", không dùng siêu âm, nhưng cũng có thể do vị trí đâm kim. Tỷ lệ thất bại 2% - 3,2% nếu đâm kim vùng trên bên vệ nhưng tăng lên đến 10% nếu đâm kim vùng quanh rống [12, 17].

·         Nguy cơ đối với  thai nhi:

-   Xuất huyết :

Xuất huyết được xem là nguy cơ chính đối với thai nhi khi vị trí chọc rút không phải là vị trí trên vệ hay khi không định vị trí bánh nhau bằngsiêu âm trước khichọc rút. Chọc rút ra máu có thể do đâm phảibánh nhau nhưng cũng  có thể do đâm phải dây rốn [5, 10, 21, 31, 50]. Trong mọi trường hợp CRNO muộn cần nghe lại tim thai sau khi làm thủ thuật ; riêng trường hợp chọc rút ra máu thì cần theo dõi thật kỹ tim thai để có thể nhanh chóng mổ lấy thai nếu tình trạng thai nhi nguy cấp. Năm 1972, RYAN [50] đánh giá nếu đâm kim vùng quanh rốn, nguy cơ đâm và dây rốn là 1,7%.

-   Chạm thương :

Nguy cơ chạm thương thai nhi trở nên rất hiếm từ khi sử dụng siêu âm và đâm kim vùng trên vệ [12]. Dù sao trong y văn cũngđã ghi nhận những trường hợp xuất huyết dưới màng cứng, xuất huyết não, tổn thương mắt, dò động - tĩnh mạch, tràn dịch màng tim, tràn khí màng phổi, tổn thương lách [12].

-   Nhiễm trùng ối :

Theo HENRION, PARA và cộng sự [24] xuất độ nhiễm trùng ối ít hơn 35.

-   Vỡ, rĩ ối non :

Theo GAUTRAY [12] xuất độ vỡ, rĩ ối non là 11,13%, còn theo GORDON [17] xuất độ là 12,7%. Xuất độ như vậy không khác với xuất độ ở các thai kỳ không thực hiện CRNO.

·         Nguy cơ đối với mẹ :

-   Nguy cơ chảy máu vào ổ bụng :

Chảy máu có thể do đâm phải các tĩnh mạch trướng ở đoạn dưới tử cung hoặc đâm phải động mạch tử cung bên trái ở những tử cung quay phải [12], hoặc do đâm phải động mạch thượng vị dưới [12].

Thường lượng máu không đáng kể, thai phụ không có triệu chứng lâm sàng và tổn thương được phát hiện tình cờ do thai phụ được mổ lấy thai.

-   Tăng nhiệt :

Xuất độ tăng nhiệt là 0,4% theo GAUTRAY [12], HENRION, PARA và cộng sự [24].

Tăng nhiệt là do hồng cầu thai nhi hay nước ối xâm nhập và tuần hoàn mẹ vì vậy ở đây không cần dùng kháng sinh [27].

-   Ðau bụng :

Theo HENRION và PARA [24] xuất độ đau bụng là 8% và do huyết tụ thành bụng, huyết tụ trong cơ tử cung hay chảy máu vào ổ bụng. Thường hết sau vài tiếng.

C.    Tai biến và biến chứng trong CRNO cực sớm :

            Theo JOHNSON và GODMILOW [28], tỷ lệ chọc dò thất bại khoảng 2%, không ít hơn bao nhiêu so với CRNO ở tuổi thai 17 TVK [49].

            Tỷ lệ sảy thai thay đổi tùy theo tác giả từ 1 - 6%, với tỷ lệ cao ở những cỡ mẫu nhỏ [62]. Không có nguy cơ bệnh lý đối với hệ xương cơ và hệ hô hấp [14, 37].

IV.       KẾT LUẬN :

·         Ðể tóm lại hiện nay ở các nước CRNO đã được chuẩn hóa rất rõ để tránh các tai biến và biến chứng tuy hiếm nhưng có thể xảy ra cho thai phụ hoặc cho thai nhi. HANSMAN, HACKELOER và cộng sự [18] tóm lược các nguyên tắc khi CRNO như sau :

-   Nhất thiết phải siêu âm để định vị trí bánh nhau và vị trí CRNO.

-   Nếu có thể nên rút nước ối trực tiếp dưới siêu âm.

-   Người làm thủ thuật phải thành thạo với phương pháp. Mặc dù thủ thuật có vẻ đơn giản, ngay cả ở các trung tâm lớn về chẩn đoán tiền sản cũng nên giới hạn số người làm thủ thuật.

-   Người làm thủ thuật nên là người có kinh nghiệm về siêu âm.

·         Tại Sàigon - TP Hồ Chí Minh, CRNO đã được thực hiện tại các bệnh viện Phụ Sản từ đầu thập niên 1970. Cho đến nay toàn bộ các trường hợp CRNO đều là những trường hợp CRNO "muộn" trong những tháng cuối của thai kỳ để đánh giá độ trưởng thành của thai nhi. Ðầu tiên đó là những trường hợp CRNO "mù’ và từ đầu thập niên 1980 là CRNO sau khi bệnh nhân đã được siêu âm để định vị trí bánh nhau. Và vì là một thủ thuật được đánh giá là khá đơn giản nên CRNO thường được thực hiện bởi các bác sĩ trẻ.

Ðể mọi trường hợp sanh đều "mẹ tròn, con vuông" và để rút bớt khoảng cách biệt với các nước trong lĩnh vực chẩn đoán tiền sản, chúng tôi thiết nghĩ đã đến lúc chúng ta cần thực hiện CRNO "sớm" để cấy và làm tiêu bản nhiễm sắc thể mà tính khả thi tại TP Hồ Chí Minh đang được chứng minh. Nhưng để tính an toàn của thủ thuật được bảo đảm, chúng tôi đề nghị có một nhóm bác sĩ sản - siêu âm chuyên CRNO, có một phòng hoặc những buổi siêu âm dành riêng cho chẩn đoán tiền sản. Từ bước đầu tổ chức có quy củ này, những phương pháp chẩn đoán tiền sản khác (CRNO cực sớm, chọc rút máu dây rốn) sẽ có điểm tực vững chắc để phát triển.

 

TÀI LIỆU THAMM KHẢO

1               ANDERSON R.L, GOLSBERG J.D., GOLBUS M.S. : Prenatal diagnosis in multiple gestation;  20 years’ experience  with amniocentesis. Prenat. Diag., 1991, 11, 263.

2               ASHKENAZY M., BORENSTEIN R., KATZ Z., SEGAL M. : Constriction of the umbilical cord by an amniotic band after mid trimester amniocentesis. Acta Obstet. Gynecol. Scand. 1982, 81, 89-91.

3               BOUEJ., MORER I., LAISNEY V., BOUE A., ; Diagnostic anténatal : résultats de 1532 ponctions amniotiques et étude prospective de 1023 cas. Nouv. Presse Méd., 1979, 8, 2949 - 2953.

4               BAHADO - SINGH R., SCHMITT T., HOBBINS J.C. ; New technique for genetic   amniocentesis in twins.- Obstet Gynecol., 1992, 79, 304.

5               CHEVRANT - BRETON 0., MOUNAGA M., LE POGAMP C.,  MENTION J.E., TOULOUSE R - Piqure du cordon qu cours d’une amniocentèse tardive. Nouv. Presse Med., 1979, 8, 3170 - 3171.

6               CRANDALL B.F., HOWARD J., LEBHERX T.B., RUBINSTEIN L., SAMPLE W.S., SARTI D. - Follow - Up Of 2000 second - Trimester aminocentesis - Obstet. Gynecol. 1980, 56, 626 - 628.

7               DURANDY A., GEISCELLI C. - Diagnostic prénatal des déficits immunitaires graves et hérégitaires. - Rev. Prat., 1987, 37, 2634 - 2641.

8               EPLEY S.L., HANSON J.W., CRUIKSHANK D.P. - Fetal injury with midtrimester diagnostic amniocentesis.- Obestet.  Gynecol., 1979, 53, 77 - 80.

9               GAMERRE M., AGHER J.P., MATEI J.F., RUF  H. - Les  amniocentèses tardive : mises à jour en Gynécologie Obstétrique. - XIe Journées nationalws du Collège national des Gynéccologues et Obstétricens francais. - Vigot éd., Paris, 1987, 241 - 256.

10               GASSNER C.B., PAUL R.H. - Laceration of umbilical cord vessels secondary to amniocentesis. - Obstet. Gynecol., 1976, 48, 627 - 630.

11               GAUCHERAND P., GERMAIN D. MATHIEU M., PLAUCHU H., RUDIGOZ R. - Diagnoxtic anténatal - Editions Techniques. - Encycl. Méd. Chir. (Paris - France), Obstétrique, 1992, 5015 c10 , 15 - 18.

12               GAUTRAY J.P., VIELH J.P., HURAUX - RENDU C.H. - Amnicentèse  en  fin  de grossesse : intéret, appréciation du risque. - Nouv, Presse Méd., 1980, 9, 929 - 932.

13               GILBERT W.M., DAVIS S.E., KAKPLAN C. Et al. - Morbility associated With prenatal disruption of the dividing membrane in twin gestations. - Obstet. Gynecol., 1991, 78, 623.

14               GODMILOW I., WEINER S., DONN L.K. - Genetic amniocentesis performed between 12 and 14 weeks gestation - Am. J. Hum. Genet., 1987, 41 [Suppl.], 818 (Abstract).

15               GOLBUS M.S., LOUGHMAN W.D., EPSTEIN C.J., HALBACH G., STEPHENS J.D., HALL B.D.  - Prenatal genetic diagnosis in 3000 amniocentesis. - New Engl. J. Med., 1979, 300, 157 - 163.

16               GOLDMAN J.A., PELEG D. - Massive  peritoneal bleeding : A rare complication of maniocentesis. - Acta Obstet. Gynecol. Scand., 1980, 59, 283 - 284.

17               GORDON H.R., HEUKMEDJIAN A.G. - Suprapublic VS paraumbilical amniocentesis. Am. J. Obstet. Gynecol., 1975, 122, 287 - 290.

18               HANSMAN M., HACKELOER B.J., STAUDACH A. - Amniocentesis in "Ultrasound diagnosis in Obstetrics and Gynecology", Springer - Verlag - Berlin - Heideberg - New York - Tokyo. 1985, 81 - 86.

19               HANSON F.W., TENNANT F.R., HUNE S. et al. - Amniocentesis before 15 weeks gestation : outcome, risks, and technical problem at <12.8 weeks. - Am. J. Obstet. Gynecol.,1992, 166, 1707.

20               HANSON F.W., ZORN E.M., TENNANT F.R. et al. - - Amniocentesis before 15 weeks gestation : outcome, risks, and technical problem. - Am. J. Obstet. Gynecol., 1987, 156, 1524 - 1531.

21               HARRION R., CAMPBELL S., CRAFT I. - Risks of feto - maternal hemorrhage resulting from amniocentesis with ang without placental ultrasound localization. Obstet. Gynecol., 1975, 46, 389 - 391.

22               HARVEY M., CAMPBELL S., CRAFT I. - Risks of feto - maternal hemorrhage resultung from amniocentesis with and without problems  and proposed standards. - Clin. Res., 1983, 31, 126.

23               HENRION R., PAPA F., ROUVILLOIS  J.L., HENRION - GEANT R., L’amniocentèse prècoce, 1061 ponctions et 1000 grossesses. - J. Gynecol. Obstet. Biol. Reprod. 1977, 6, 603 - 611. Acta Obstet. Gynecol. Scand.

24               HENRION R., PAPA F.- Risques de I’amniocentèse.- concours méd., 1981, 103, 525-530.

25               HOLZGREVE W., HANSMAN M.- Erfahrung mit der "free hand needle" - Technik bei 3215 Amniocentesen im 2. Trimenon zur pranatalen Diagnostik. - Gynakologe, 1984, 17, 77-82.

26               JACOBSON C.B., BARTER R.H. - Acta Obstet. Gynecol. Scand. Intrauterine diagnosis and management of genetic defects. Am. J. Obst. Gynec., 1967, 99, 795 - 807.

27               JAXQUOT D., VAITON J.C. - Incidenis et accidents des amniocentèses. Cah. Med. Lyon, 1972, 48, 407 - 468.

28               JOHNSON A., GODMILOW I. - Genetic amniocentesis at 14 weeks or less. - Clin. Obstet. Gyneclo. 1988, 31, 345 - 352.

29               JONATHA W. - Amniozentese in der Fruhschwangerschaft under Sichikontrolle mit Ultraschall. - Electromedica, 1974, 3, 94.

30               KAPPEL B., NIELSEN J., BRONGAARDHANSEN K. et al. - Spontaneous abortion followung mid - trimester amniocentesis ; clinical signficance of placental perforation and blood stained amniotic fluid. - Br. J. Obstet. Gynaecol., 1987, 94, 50.

31               KIRSHEN E.J., BENIRSCH K.E. - Fetal exanguination after amniocentesis. Obstet. Gynecol K.E. - 1973, 42, 615 - 616.

32               LAMB M.P. - Gangrene of a fetal limbl due to amniocentesis. Br. J. Obsetet. Gynecol., 1975, 82, 829 - 830.

33               LILEY A.W. - The use of amniocentesis and fetal transtusion in erythroblastosis  fetalis. - Pediatrics, 1965, 35, 836 - 847.

34               MCERNEY J.K., MCERNEY L.N. - Unfavorable neonatal outcome after intra - amniotic injection of methylene blue. - Obstet. Gynecol., 1983, 61 (suppl), 35.

35               MENEES T.O., MILLER J.D., HOLLY L.E. - Amniography, preleminary report. - Am. J. Roentgen, 1930, 24, 363 - 366.

36               MERIN F., BEYTH Y. - Uniocular congenital blindness as a complication of mid trimester amniocentesis. - Am. J. Opthalmol., 1980, 89, 299 - 230.

37               MILLER W.A., DAVIES R.M., TRAYER B.A. et al. - Safety and accuracy of early amniocentesis. - Am. J. Hum. Genet., 1987, 41 [Suppl.], 835(Abstract).

38               MOESSINGER A.C. , BLANC W.A., BYRNE J., ANDREWS D., WARBURTON D., BLOOM A. - Amniotic band syndrom associated with amniocentesis. Am. J. Obstet. Gynecol., 1981, 141, 588 - 591.

39               NADLER H. L., GERBIE A.B. - Role of amniocentesis in the intrauterine delection of genetic disorders. - New England J. Med., 1966, 282, 596 - 599.

40               NADLER H. L.- Antenatal detection of here  ditary disorders. - Pediatrics, 1968, 42, 912 - 918.

41               NELSON M.M., EMERY A.E.H. - Amniotic fluid cells : prenatal sex prediction and culture. - Brit. Med. J., 1970, 1, 523 - 526.

42               NICHD. Nation Registry for amniocentesis study group. Idtrimester amniocentesis for prenatal diagnosis. Safety and accuracy. JAMA 1976, 236, 1471 - 1476.

43               NISAND I., DURAND J.L., SPIELMANN A., DELLENBACH  P. - Amniocentèse échocontrôlée. - Ann. Radiol., 1983, 26, 429 - 431.

44               van der POL J.G., WOLF H., BOER K. et al. Jejunal atresia related to the use of methylene blue in genetic amniocentesis in twins. - Br. J. Obstet. Gynaecol., 1992, 99, 141.

45               PEHDER H., WEITZEL H. - Intra - uterine amputation after amniocentesis. Lancet, 1978, 1, 382.

46               PROCHOWNICK, L. - Arch. Yynak, 1897, 11, 304.

47               RIIS P., FUCHS F. - Antenatal determination of the foetal sex in the prevention of hereditary diseases. - Lancet, 1960, ii, 180 - 182.

48               ROMERO R., JEANTY P., REECE E.A. et al. - Sonographically monitored amniocentesis to decrease intraoperative complications. - Obstet. Gynecol., 1985, 65, 426.

49               ROONEY D.E., McLACHLAN N., SMITH J. et al. - Early amniocentesis : a cytogentic evaluation. Br. Med. J., 1989, 299, 25.

50               RYAN G.T., IVY R.Jr., PEARSON J.W. - Hémonrragie foetale comme risque majeur de I’amniocentèse. - Obstet. Gynecol.,1972, 40, 702- 707.

51               SHALEV E., DAN U., MACHIACH S. et al. - First trimester transvaginal amniocwntesis for genetic evaluation of multiple gestation. - Prenat. Diagn., 1990, 10, 344 - 345.

52               SIMPSON N.E., DALLAIRE L., MILLER J.R., SIMINOVICH L., HAMERTON J.L., MC KEEN C. - Prenatal diagnosis of genetic disease in Canada :report of a collaborative study. - Can. Med. Ass.j. 1976, 115, 739- 746.

53               STEELE M.W., BREG W.R.- Chromosome analysis of human amniotic fluid cells.-Lancet 1966, 1, 383 - 385.

54               STRIPPARO L., BUSCAGLIA A., LONGATTI L. et al. - Genetic amniocentesis : 505 cases performed before the sixteenth week of gestation. - Prenat. Diagn., 1990, 10, 359 - 364.

55               SUNDBERG K., SMIDT - JENSEN S., PHILIP J. - Amniocentesis with increased cell yield, obtained by filtraion and reinjection of the amniotic fluid. - Ultrasound Obestet. Gyanaecol., 1991, 1, 91 - 94.

56               SWIFT P.G.F., DRISCOLL I.B., VOWLES K.D.J. - Neonatal small bowell obstruction associated with amniocentesis. - Br. Med.j., 1979,1, 720.

57               TETTENBORN B., JONATHA W., KNORR K. - Technique of amniocentesis in prenatal diagnosis in "Procceding of the third european conference on prenatal dignosis of genetic disorders". - J.D. Murken, S.S. Stencel, Rutkowski, E. Schwinger, F. Euka. Édit. Stuttgart, 1979, 132 - 149.

58               THEMKELPEN A.J., REHDE H. - Intestinal atresia caused by second trimester aminiocentesis. - Br. J. Obstet. Gynecol.,1981, 88, 559 - 562.

59               THIEDE H.A., CREASMAN W.I, METCALFE S. - Antenatal analysis of the human chromosomes. - Amer. J. Obst. Gynec., 1966, 94, 589.

60               VALENTI C., KEHATY T. - Culture of cells obtained by amniocentesis. - J. Lab. Clin. Med., 1969, 73, 355 -358.

61               VIALARD J.,LE MAREC B, GIRAUD J.R. - Amniocentèse. - Encycl. Méd. Chir. (Paris, France), Obstétrique, 12 - 1985, 5012 D10, 1-10.

62               WEINER S., RAYR C. - Communication. Pennsylvania Hospital. Philadelphia, September 1987.

63               WURSTER K.G., ROEMER V.M., DECKER K,HIRSCH H.A. - Amniotic infection syndrome after amniocentesis. A case report. Gebursth U Frauenheilk, 1982, 42, 676 - 679.