SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE / HỘI CHỨNG SỐC DENGUE :
MỘT VẤN ÐỀ SỨC KHỎE CÔNG CỘNG
QUAN
TRỌNG HIỆN NAY CỦA VIỆT
Từ
trận dịch đầu tiên vào năm 1958, hiện nay sốt xuất huyết
Dengue / hội chứng sốc Dengue (SXHD/HCSD) ở trong tình trạng lưu
hành tại Việt
DENGUE
HEMORRHAGIC FEVER/DENGUE SHOCK SYNDROME : A CURRENTLY SIGNFICANT PUBLIC HEALTH
PROBLEM OF
Nguyễn
Ðỗ Nguyên* Y học TP Ho Chi Minh* N0 1 - Series 1 - 1997 :
15-21
Trong
vòng 20 năm trở lại đây, sốt xuất huyết Dengue (SXHD) và một
hình thức nặng của nó, hội chứng sốc Dengue (HCSD), đã trở
thành bệnh quan trọng hàng đầu trong những bệnh nhiễm virut
sinh ra do động vật tiết túc. Con số những trận dịch ngày càng
gia tăng, trong khi bệnh lưu hành địa phương mức độ cao
(hyperendemic) ngày càng lan rộng hơn. Ước tính hàng năm có
khoảng 100 triệu trường hợp SXHD xảy ra trên toàn thế giới,
trong đó, khoảng 250.000 được ghi nhận chính thức và tỉ suất
bệnh mới thật sự có lẽ còn cao hơn nhiều lần(15).
Ðược ghi nhận lần đầu tiên về mặt lâm sàng Phi luật tân
(1953) và ở Thái Lan (1958), cho đến nay SXHD vẫn còn là một
trong những nguyên nhân nhập viện và tử vong hàng đầu của
trẻ em tại những quốc gia trong vùng nhiệt đới ở khu vực
Ðông Nam Á và Tây Thái Bình Dương(7). Trong những năm
1980, dịch SXHD đã lan ra đến Tây, Trung và Bắc Mỹ châu ; Phi
châu ; Trung Quốc và Úc. Dịch SXHD được đánh giá có khả
năng sẽ tiếp tục lan tràn đến bất cứ những khu vực nào
khác có muỗi Aedes aegypti(15).
SXHD
là một bệnh có tính cách gây dịch ở Việt
Tại
miền
Bảng
1 : Số mắc và chết vì SXHD
ở các nước Ðông Nam Á từ 1960-1988(18).
Quốc gia |
Tổng số mắc |
Tổng số chết |
|
Việt
|
1.111.734 |
10.415 |
|
Thái
Lan |
689.387 |
8.284 |
|
In-đô-nê-xi-a |
186.905 |
7.624 |
|
Miến
Ðiện |
51.936 |
2.132 |
|
Phi
Luật Tân |
38.482 |
4.266 |
|
Mã
Lai |
18.749 |
464 |
|
Lào
|
8.712 |
196 |
|
Xin-ga-po |
6.935 |
40 |
Theo
thống kê của bộ y tế năm 1995 (3) , từ năm
1991-1995, số mắc, chếtvì SXHDtrong cả nước ?cao nhứt là năm
1991, rồi giàm đáng kể , nhưng số mắc vẫn có khuynh hướng
tănh nhẹ trong những năm 1992, 1993 , 1994(Bảng 2). Trong năm 1995,
số mắc đã tăng caotrở lại, riêng tại thành phố hồ chí
minh có 6.037 trừơng hợp mắc.
Bảng
2.Số mắc và chết vìSXHD ở việt nam từ 1991-1995
Năm |
Số mắc |
Số chết |
Tỉ suất chết vì bệnh |
|
1991 |
94.630 |
403 |
0.43% |
|
1992 |
46.684 |
214 |
0.46% |
|
1993 |
48.527 |
160 |
0.33% |
|
1994 |
49.199 |
127 |
0.26% |
|
1995 |
81.612 |
274 |
0.34% |
Nguồn:
Niêm giám thống kê y tế 1995 (3)
Hiện
nay, trong phạm vi toàn quốc, SXHD đứng hàng thứ bảy trong số
10 nguyên nhân nhập viện hàng đầu, và đứng hàng thứ 10
trong số 10 nguyên nhân tử vong hàng đầu của những bệnh nhân
nhập viện .
Tại
thành phố hồ chí minh , từ năm 1975 dịch SXHD xảy ra cùng lúc
với những tỉnh thành khác ở miền nam vào nhữnh năm 1975,
1979, 1983, 1987. Tỉ suất bệnh trong 2
trận dịch 1983, và?1987 là 799,9/100.000dânvà 721,4/100.000, tương
ứng. Tỉ suất chết vì bệnhtrung bình là 0,55%. Dịch xảy ra ở
những quận nội thành rồi lan ra những quận ngoại thành .
Trong những quận nội thnành, dịch xảy ra ở những nơi đông
dân cư. Lứa tuổi mắc bệnh nhiều nhứt là 5-9 tuổi(39,5%) và
10-15 tuổi (29,6%) (17)
Ở
Jakarta
( In-đô- nê- xi- a), từ năm 1975-1978 thời gian nằm viện điều
trị trung bình của 1.300 bệnh nhi là 3,5 ngày . Trong vụ dịch SXHD
do DEN-2, DEN- 3 gây ra ở
Theo
Gubler (10) , có ba yếu tố chính góp phần làm gia
tăng bệnh SXHD. Ðó là: (1) thiếu những biện pháp kiểm soát
muỗi lâu dài, có hiệu quà ởhầu hết những nước trong vùng
nhiệt đới (2) sự gia tăng thành thị hoá ở những nước
nói trên (3) sự gia tăng đi lại bằng đường hàng không
trong 20 năm qua đã tạo nên cơ chế lý tưởng cho việc chuyên
chở vi rút Dengue giưã những trung tâm dân số trong vùng nhiệt
đới. Cả 3 yếu tố nói trên là gồm đủ trong giai đoạn phát
triển kinh tế xã hội của việt nam hiện nay.
Trong
nhiều năm trước đây , việc phòng chống dịch thường chủ
yếu dựa vào những trương trình kiểm soát muỗi có tính khẩn
cấp . Những trương trình này là không hiệu quả , vì những
hoá chất được sử dụng để diệt muỗi
gần như không có tác dụng với những quần thể muỗi
A. aegypti hoang dại ; và việc giàm sát dịch của chúng ta thường
không nhạy (11) . Hầu hết những trung tâm y tế dự
phòng ở các tỉnh phía nam thường chờ khi xảy ra dịch mới
tiến hành những biện pháp can thiệp , do đó đã quá muộn vì
dịch đã lên cao điểm (8) .
ở
các nước kém , hoặc các nước đang phát triển , sự gia tăng
dân số là không kiểm soát được , và người dân có
khuynh hướng tập trung vào những trung tâmthành thị để có
đời sống cao hơn. Ðiều này đã ảnh hưởng đến mật độ
và sự phân phối của A. aegypti, từ đó ảnh hưởng đến những
đặc tính dịch tể của SXHD (15) . Ở thái lan trong thập
niên 1950 , những trường hợp SXHD đầu tiên được ghi nhận
xuất phát từ băng cốc . Từ 1985 , đa số các trường hợp
là xuất phát từ bên ngoài khu vực thành thị
(13)
. Phương
tiện giao thông phát triển , đặt biệt của đường hàng
không , là yếu tố thuận lợi cho sự lan rộng của bệnh . Thời
kỳ đầu của việc nam dịch SXHD chỉ xảy ra ở những quần thể
đông đúc , nhưng dần dần lan rộng hơn. Từ năm 1975 , dịch
SXHD đã xảy ra khắp 16 tỉnh chỉ trừ khu vực miền núi . trong
khoảng 1975-1981, hàng năm thành phố hồ chí minh có số bệnh
nhân cao nhứt , nhưng từ năm 1982 , các tỉnh khác lại mắc
nhiều hơn . Trong năm 1988, trận dịch lớn đầu tiên đã xảy
ra ở Bả? lộc- Lâm đồng một tỉnh khu vực miền núi , và
từ đó SXHD đả xảy ra khắp tỉnh thành miền nam (8)
Trong
trận dịch 1987 , typ vi- rut gây bệnh chính là DEN-2 . Ðến năm
1990, DEN-1 được nhập vào thành phố Hồ chí minh , Long an , Ðồng
nai, lưu hành cùng lúc với DEN-2 . Cuối trận dịch này , DEN-4
được phân lập . Vào 1992 , DEN-2 lưu hành nhiều trở lại (8)
, và trong năm 1994-1995 , DEN -3 xuất hiện, trùng hợp với sự
tăng cao của số mắc và chết cũng như độ nặng của bệnh. Sự
lan tràn của DEN -3 có thể tạo nên một mối đe doạ nghiêm
trọng mới(9).
Vì
cho đến nay vẫn chưa có vac-xin ngừa SXHD nên
vấn đề phòng chống chủ yếu dựa vào những chương trình
kiểm soát muỗi. Khả năng xảy ra dịch SXHD có liên quan đến
mật độ muỗi, đặc biệt là muỗi A.
aegypti, trung gian truyền bệnh hữu hiệu nhất, vì có thói
quen sống trong nhà. Cho đến nay, người ta chưa xác định chính
xác mật độ dân số muỗi là bao nhiêu để SXHD có thể bùng
phát dịch hoặc chỉ lưu hành trong một cộng đồng(7).
Chúng
ta biết rằng khả năng để xảy ra SXHD có thể được giảm đáng
kể chỉ đơn giản bằng cách giảm tỉ suất bệnh mới và cách
duy nhất để đạt được điều này là kiểm soát muỗi. Những
biện pháp cổ điển được dùng để kiểm soát muỗi trong hơn
5 thập niên trước đây chủ yếu dựa vào chính quyền nhà nước,
là một cách tiếp cận "trên-xuống" (top-down). Trong gần suốt
20 năm liền, người ta cho rằng biện pháp hữu hiệu nhất để
diệt muỗi A. aegypti trưởng thành ở những vùng thành thị là
sử dụng hóa chất phun ở dạng thể tích cực nhỏ (ultra low
volume). Nhưng thực tế đã chứng minh rằng biện pháp này có
rất ít, nếu không nói là chẳng có hiệu quả gì đối với
muỗi A. aegypti hoang dại và đối
với việc truyền SXHD. Trong
khi đó, ảnh hưởng do độc tính của hóa chất đối với con
người còn nhiều hơn đối với muỗi. Ưu điểm của cách tiếp
cận "trên-xuống" là nếu được thực hiện tốt, nó bảo
đảm bao phủ được cả một vùng, thành công nhanh và có khi
thanh toán được hết muỗi trong giai đoạn đó. Tuy nhiên, chi
phí rất cao và hơn nữa nó làm cho người dân có tinh ỷ lại
và thậm chí cho rằng những cơ quan nhà nước có trách nhiệm
phải diệt muỗi sinh sản trong nhà của họ, những con muỗi do
chính lỗi của họ gây ra vì đã không quản lý tốt những vật
chứa nước. Trớ trêu thay, nhà nước lại chấp nhận vai trò
bảo vệ cho người dân và hứa hẹn những kết quả mà thường
là không thể đạt được với những biện pháp kiểm soát
muỗi đang sử dụng hiện nay. Khuyết điểm của cách tiếp cận
"trên-xuống" là không có hiệu quả lâu dài vì không duy
trì được. Những biện pháp kiểm soát muỗi theo cách tiếp
cận này đã rất thành công ở châu Mỹ trong những thập
niên trước, nhưng sau khi ngưng thực hiện trong khoảng 20 năm, A.
aegypti đã tái xâm nhập vào châu Mỹ với hậu quả là
những trận dịch lớn SXHD theo sau. Ðây là một thí dụ điển
hình và là một bằng chứng nhắc nhở rằng cách tiếp cận
"trên-xuống" là không có hiệu quả lâu dài(11).
Hiện
nay, xét về khía cạnh hiệu quả, tổn phí và tác dụng lâu dài,
nhiều bằng chứng đã cho thấy rằng cách tiếp cận từ dưới-lên
(bottom-up) dựa vào cộng đồng là hứa hẹn nhất(11).
Những chương trình kiểm soát SXHD ở Thái Lan, Mianma, In-đô-nê-xi-a
là những thí dụ của những
chương trình hành động được chính cộng đồng thực hiện
trong những chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu. Ở Thái
Lan(14), chương trình kiểm soát côn trùng trung gian tập
trung vào : 1) giảm nguồn sinh sản của muỗi qua sự tham gia của
cộng đồng, 2) sử dụng Abate để diệt ấu trùng muỗi trong tất
cả những vật chứa nước, 3) phun xịt hóa chất diệt muỗi trưởng
thành khi có dịch hoặc ở những vùng có mật độ muỗi cao,
4) bảo vệ người khỏi bị muỗi cắn bằng cách sử dụng những
biện pháp xua muỗi, ngũ mùng, sử dụng màn cửa, nhang muỗi.
Tuy nhiên, những vấn đề phát sinh từ chất hóa học dùng để
diệt ấu trùng và muỗi trưởng thành bao gồm tổn phí, sử
dụng lặp lại theo chu kỳ, sự chấp nhận của cộng đồng (đặc
biệt đối với hóa chất diệt ấu trùng như Abate thả trong nước
sinh hoạt thường gây mùi khó chịu), và ô nhiễm môi trường.
Do đó, hiện nay biện pháp hiệu quả nhất vẫn là giảm nguồn
sinh sản của muỗi qua sự tham gia của cộng đồng.
Có
những yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho muỗi A.
aegypty phát triển, từ đó làm gia tăng mật độ muỗi
trong cộng đồng dân cư và tăng khả năng tiếp xúc giữa muỗi
và người. Hành vi của cá nhân hoặc của một cộng đồng là
một trong những yếu tố đó. Tổ chức Y tế thế giới đã
nhấn mạnh rằng sự phân bố
của muỗi và những nơi sinh
sản của muỗi A. aegypty ở hầu
hết mọi nơi cho thấy là việc kiểm soát muỗi có thể được
thực hiện bởi chính những thành viên của cộng đồng. Những
biện pháp kiểm soát đó bao gồm súc rửa vật chứa nước,
lấp những lỗ cây với cát hoặc xi măng, nuôi cá diệt ấu
trùng muỗi, đậy nắp những vật chứa nước sinh hoạt và dùng
Abate để diệt ấu trùng. Ðó là những
việc làm rất nhiều và đơn giản có thể được thực
hiện dễ dàng bởi người dân, miễn là chúng ta có thể
thuyết phục được họ về lợi ích của chúng(19).
Ðể
chọn được những biện pháp kiểm soát côn trùng trung gian
và những chiến lược giáo dục sức khỏe thích hợp, chúng
ta cần hiểu biết về những hành vi của người dân và những
yếu tố ảnh hưởng đến những hành vi đó. Những hành vi
của con người có liên quan đến việc kiểm soát côn trùng
trung gian gồm có :
1.
Những hành vi ảnh hưởng đến sự sinh sản của côn trùng
trung gian bao gồm những hành vi tạo ra chỗ cho muỗi đẻ trứng.
Trữ nước sinh hoạt trong những vật chứa là một hành vi
phổ biến ở những nơi tập trung dân cư mà nước máy không
được cung cấp đầy đủ. Những dụng cụchứa nước này là
nơi muỗi đẻ trứng . Ngoài những dụng cụ chứa nước sinh
hoạt , những vật chứa nước khác trong gia đình mà muỗi có
thể đẻtrứng là những chén đựng nước để chống kiến
dưới chân tủ đựng thức ăn , bình hoa ,vv (6). Trong
khuôn viên quanh nhà , nhiều loại đồ vật là những nơi muỗi
đẻ , đặt biệt là nhựng vật phế thải như vỏ xe cũ, tô
chèn bể, lon thiết ,gáo dừa, vv (5) .Súc rữa thường
xuyên những vật chứa nước , và thay nước bên trong có
thể phá vỡ vòng đời của muỗi . Ðậy nắp những vật chứa
nước sinh hoạt; xử lý nước là những biện pháp kiểm soát
muỗi hiệu quả .
2.Những
hành vi làm tăng hoặc giảm sự tiếp xúc giưã người và
côn trùng trung gian , từ đó tăng hoặc giảm những cơ hội
khiến cho người bị muỗi cắn.Cách sử dụng nhà ở là một
yếu tố liên quan đếnsự tiếp xúc giưã muỗi và người,
đặc biệt là trong những căn phòng nhiều đồ đạc bề bộn
là nơi mà muỗi có thể trú ẩn trong quần áo, đồ gỗ, vv.
Dù rằng hoạt động hút máu chủ yếu xảy ra vào ban ngày (sáng
sớm và xế chiều, nghĩ vào giữa trưa), nhưng muỗi A. aegypty vẫn có thể hoạt động vào ban đêm(20).
Ngũ mùng là một thói quen phổ biến từ lân ở những vùng
nhiệt đới Phi Châu, Mỹ Châu và Á Châu và nếu được sử
dụng đúng, mùng ngũ là một biện pháp hiệu quả để chống
muỗi cắn. Nhang muỗi là một biện pháp xua muỗi được sử
dụng rộng rãi ở những khu vực Tây Thái Bình Dương, Ðông
Nam Á,
3.Ngoài
ra, còn có những loại hành vi liên quan đến sự chấp nhận
và sử dụng những biện pháp kiểm soát côn trùng trung gian.
Tất
cả những hành vi nói trên, dù của cá nhân hay của cộng đồng,
đều bị ảnh hưởng bởi kiến thức, niềm tin, những giá trị,
thái độ, kỹ năng, tài chánh, vật tư, thời gian và ảnh hưởng
của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những nhà lãnh đạo tư
tưởng và ngay cả những nhân viên y tế. Giáo dục sức khỏe,
sự lựa chọn những biện pháp can thiệp thích hợp trong việc
kiểm soát muỗi được đìi hỏi phải xem xét nghiêm túc những
bối cảnh xã hội và cộng đồng mà trong đó một loại hành
vi xảy ra. Nếu xem gia đình là một đơn vị của xã hội, thì sẽ
có những loại hành vi của người dân ở mức độ gia đình
có thể tạo ra những kết quả tốt cho những chương trình kiểm
soát muỗi.
Tóm
lại, những sự phát triển kinh tế, xã hội đã dẫn đến những
thay đổi trong mô hình bệnh, cách thức lan truyền, typ virút lưu
hành ; trong khi đó những chương trình giám sát, phòng chống
không kịp thời, với sự tham gia của cộng đồng chưa cao nên
hiệu quả còn kém, tất cả đã khiến cho việc kiểm soát SXHD
trở nên phức tạp. Tuy nhiên, những phân tích trên đây đã
cho thấy rằng có những hành vi của các nhân hoặc của cộng
đồn, dù rất nhỏ, rất đơn giản, nhưng nếu tích cực, sẽ là
một nhân tố cơ bản cho sự thành công lâu dài của những
biện pháp kiểm soát muỗi, từ đó có phể phávỡ được
dây chuyền lây của SXHD. Ðáng tiếc là cho đến nay điều này
vẫn chưa được nhận ra, vì chính người dân cũng chưa nhận
thức được rằng cũng có những loại hành vi của họ đã
góp một phần đáng kể trong quá trình phát sinh và lan truyền
SXHD. Dù sao, sẽ là không muộn nếu như Walt Kelly đã nói : "chúng
ta đã gặp kẽ thù, và nó là chính chúng ta"(12).
1. ÐỖ QUANG HÀ. Những hiểu biết hiện nay về vi-rút Dengue và dịch Dengue xuất huyết. Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Pasteur TP.HCM,1993.
2.
ÐỖ
QUANG HÀ, TRẦN TIẾN VÀ CS. Dịch Dengue xuất huyết tại Việt
3.
Niên
giám thống kê y tế 1995. Phòng Thống kê và Tin học Bộ Y tế,
1995.
4.
TRẦN
TẤN TRÂM. Tiếp liệu trong điều trị SXHD. Phân tích giá cả/hiệu
quả các trang bị. Trong : Gíam sát và phòng chống dịch Dengue xuất
huyết của khu vực phía
5.
6.
CHEONG,
W. H. PREFERRED A. acgypti larval habitats in urban areas. Bulletin of the W. H.
O 1967 : 36 : 586-9.
7.
Dengue
haemorrhagis fever : diagnosis, treatment and contro. W. H. O. Geneva, 1986.
8.
DO
QUANG HA, VU THI QUE HUONG, HUYNH
THI KIM LOAN, DINH QUOC THONG, VICENT DEUBEL. Dengue Haemorrhagic Fever in the
South of Vietnam during 1975-1992 and Its Control Strategy. Trop. Med. Dec 1994,
36(4) : 187-201.
9.
DO
QUANG HA, VU THI QUE HUONG, HUYNH THI KIM LOAN, CAO MINH THANG, PHAN KIM SAX.
Dengue and Dengue Haemorrhagic Fever in South Vietnam during 1995. (Personal
communication).
10.
GUBLER
D. J. Aedes aegypti and Aedes acgypti-borne discases control in the 1990s : top
down or bottom up. Am. J. Trop. Med. Hyg. 1989 ; 40(6) : 571-578 (9-11).
11.
GUBLER
D. J. Surveillance for Dengue Hemorrhagic Fever. Bulletin of PAHO. 1989, 23 (4)
: 397-403.
12.
HALSTEAD
S. B. Selective Primary Health Care : Strategies for Control of Disease in the
Developing World. XI. Dengue. Reviews of Infectious Diseases. March-April 1984 :
6(2) : 251-264.
13.
LIMPAKARNJANARAT
K. THIRATKUL A. UNGCHUSAK K. There decades of DHF : suryeillance in Thailand,
1958-1987 Dengue Newsletter. W. H. O Feb 1991 : 16 : 11-17.
14.
MATURASAPAS,
W. The result of evaluation of Dengue Hemorrhagic Fever prevention and control
program 1977-1980 Journal of Communicable discase 1981 : 7 : 327 - 347.
15.
MONATH,
T. P. Dengue : The risk to developed and deyeloping countries. In : Proc. Natl.
Acad. Sci USA. Colloquium Paper March 1994. Vol. 91 : 2395-2400.
16.
NGUYEN
THUY HOA. Country report on Dengue fever/Dengue haemorrhagic fever and Japanese
encephalitis in Vietnam. Trop Med. Dec 1994 ; 36(4) : 170 - 76.
17.
NGUYEN
DUY THANH, PHAM NGOC GIAO. Epidemiology and Clinical Features of Dengue
Hemorrhagic Fever in Hochiminh city and the Center for TROPICAL Diseases,
Vietnam. TROP. Med. Dec 1994 ; 36(4) : 177-186.
18.
UMENAL
T. SUZUKI. Review of Dengue Fever/Dengue Haemorrhagic Fever situation I the
Western Pacific Region in 1988. Dengue Newsletter, 15 : 21-24.
19.
Vector
control in primary health care. W. O. Techmical report series. N0.
755.
20.
SCHOOF,
H. F. MATING, resting habits and dispersal of A. aegypti. Bulletin of the W. H.
O. 1967 ; 36 : 600-1.
<< Ðầu trang