SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE / HỘI CHỨNG SỐC DENGUE :

MỘT VẤN ÐỀ SỨC KHỎE CÔNG CỘNG

QUAN TRỌNG HIỆN NAY CỦA VIỆT NAM

Nguyễn Ðỗ Nguyên *

TÓM TẮT

            Từ trận dịch đầu tiên vào năm 1958, hiện nay sốt xuất huyết Dengue / hội chứng sốc Dengue (SXHD/HCSD) ở trong tình trạng lưu hành tại Việt Nam   xảy ra dịch từng thời kỳ. Trong khoảng thời gain 1960-1988, Việt Nam đứng đầu 8 quốc gia Ðông Nam Á và cả thế giới về tổng số mắc và chết SXHD/HCSD. Tỉ suất bệnh mới gia tăng theo sự phát triển kinh tế xã hội. Hành vi của người dân cũng góp một phần quan trọng. Việc phòng chống theo cách trên xuống đã không còn hiệu quả. Phương pháp tiếp cận dưới lên nhấn mạnh vào sự tham gia của cộng đồng trong việc kiểm soát muỗi, những con muỗi sinh ra trong nhà của người dân vì họ đã quản lý không tốt những vật chứa nước.

SUMMARY

DENGUE HEMORRHAGIC FEVER/DENGUE SHOCK SYNDROME : A CURRENTLY SIGNFICANT PUBLIC HEALTH PROBLEM OF VIETNAM

Nguyễn Ðỗ Nguyên* Y học TP Ho Chi Minh* N0 1 - Series 1 - 1997 : 15-21

NHỮNG ẢNH HƯỞNG VỀ SỨC KHỎE CỦA SXHD

            Trong vòng 20 năm trở lại đây, sốt xuất huyết Dengue (SXHD) và một hình thức nặng của nó, hội chứng sốc Dengue (HCSD), đã trở thành bệnh quan trọng hàng đầu trong những bệnh nhiễm virut sinh ra do động vật tiết túc. Con số những trận dịch ngày càng gia tăng, trong khi bệnh lưu hành địa phương mức độ cao (hyperendemic) ngày càng lan rộng hơn. Ước tính hàng năm có khoảng 100 triệu trường hợp SXHD xảy ra trên toàn thế giới, trong đó, khoảng 250.000 được ghi nhận chính thức và tỉ suất bệnh mới thật sự có lẽ còn cao hơn nhiều lần(15). Ðược ghi nhận lần đầu tiên về mặt lâm sàng Phi luật tân (1953) và ở Thái Lan (1958), cho đến nay SXHD vẫn còn là một trong những nguyên nhân nhập viện và tử vong hàng đầu của trẻ em tại những quốc gia trong vùng nhiệt đới ở khu vực Ðông Nam Á và Tây Thái Bình Dương(7). Trong những năm 1980, dịch SXHD đã lan ra đến Tây, Trung và Bắc Mỹ châu ; Phi châu ; Trung Quốc và Úc. Dịch SXHD được đánh giá có khả năng sẽ tiếp tục lan tràn đến bất cứ những khu vực nào khác có muỗi Aedes aegypti(15).

            SXHD là một bệnh có tính cách gây dịch ở Việt Nam . Ở miền Bắc, SXHD được mô tả lần đầu tiên vào năm 1958 với trên 68 bệnh nhi ở bệnh viện Bạch Mai. Trận dịch SXHD với sự xác định nguyên nhân do virut DEN-2 xảy ra vào năm 1969 tại Hà Nội rồi lan ra 19 tỉnh thành, với tổng số 46.824 ca mắc và 105 ca tử vong. Những năm có dịch lớn ở miền Bắc là 1975, 1977, 1978, 1979, 1980, 1983 và 1987. Tỉ lệ mắc thay đổi từ 52,3 đến 260,6/100.000 dân. Tỉ lệ tử vong ghi nhận trong vụ dịch năm 1983 là 1,2%. Khác với miền Nam , ở miền Bắc người lớn cũng bị SXHD. Trong trận dịch 1983, 53,12% bệnh nhân là người lớn tuổi(1) và trong số 405 trường hợp được chẩn đoán huyết thanh xác định của trận dịch năm 1991, nhóm tuổi có tỉ lệ cao nhất là 30-34 tuổi (17,8%)(16).

            Tại miền Nam , dịch SXHD đầu tiên xảy ra vào năm 1960 với 60 ca chết. Tháng 3-1963, dịch lớn đã xảy ra ở Cái Bè, Châu Ðốc, Hồng Ngự, Tân Châu, Cao Lãnh với tổng số 331 bệnh nhi nhập viện và 116 tử vong. Virut DEN-2 ở người và DEN-4 ở muỗi A.aegypti đã được phân lập trong trận dịch năm 1964. Từ năm 1975, những trận dịch lớn ở miền Nam có chu kỳ khoảng 4 năm, đã xảy ra vào những năm 1975, 1978-79, 1983, 1987. Trong khoảng thời gian 1989-1994, không có dịch lớn so với năm 1987, nhưng tỉ suất nhiễm cao và những trận bùng phát địa phương và những ca lẻ tẻ xảy ra ở khắp nơi. Trong năm 1994, tỉ suất nhiễm giảm thấp nhất  tính từ năm 1989, nhưng trong năm 1995 một trận dịch lớn hơn xảy ra ở thành phố Hồ Chí Minh và 4 tỉnh kế cận. Typ virut DEN-3 xuất hiện từ năm 1994 tiếp tục lưu hành trong năm 1995, cùng với DEN-1 và DEN-2. Ở một số tỉnh, đặc biệt là Bến Tre, con số các trường hợp xuất huyết tiêu hóa nặng tăng gấp 5 lần so với những năm trước(9). Ða số bệnh nhân ở miền Nam dưới 10 tuổi và lứa tuổi mắc nhiều nhất là từ 5-6 tuổi(1), nhưng trong trận dịch 1995, trong tổng số 162 trường hợp phân lập được virut, nhóm tuổi 10-14 có tỉ lệ 42%, cao hơn so với nhóm tuổi 5-9 có tỉ lệ phân lập dương tính là 38%(9). Những dữ kiện trong Bảng 1 cho thấy tình hình mắc và chết SXHD ở các nước trong khu vực Ðông Nam Á(18). Trong khoảng thời gian nói trên, Việt Nam đã được xếp hàng đầu về con số những trường hợp mắc và chết SXHD trong 8 nước Ðông Nam Á và cả thế giới.

            Bảng 1 : Số mắc và chết vì SXHD ở các nước Ðông Nam Á từ 1960-1988(18).

Quốc gia

Tổng số mắc

Tổng số chết

Việt Nam

1.111.734

10.415

Thái Lan

689.387

8.284

In-đô-nê-xi-a

186.905

7.624

Miến Ðiện

51.936

2.132

Phi Luật Tân

38.482

4.266

Mã Lai

18.749

464

Lào

8.712

196

Xin-ga-po

6.935

40

            Theo thống kê của bộ y tế năm 1995 (3) , từ năm 1991-1995, số mắc, chếtvì SXHDtrong cả nước ?cao nhứt là năm 1991, rồi giàm đáng kể , nhưng số mắc vẫn có khuynh hướng tănh nhẹ trong những năm 1992, 1993 , 1994(Bảng 2). Trong năm 1995, số mắc đã tăng caotrở lại, riêng tại thành phố hồ chí minh có 6.037 trừơng hợp mắc.

            Bảng 2.Số mắc và chết vìSXHD ở việt nam từ 1991-1995

Năm

Số mắc

Số chết

Tỉ suất chết vì bệnh

1991

94.630

403

0.43%

1992

46.684

214

0.46%

1993

48.527

160

0.33%

1994

49.199

127

0.26%

1995

81.612

274

0.34%

            Nguồn: Niêm giám thống kê y tế 1995 (3)

            Hiện nay, trong phạm vi toàn quốc, SXHD đứng hàng thứ bảy trong số 10 nguyên nhân nhập viện hàng đầu, và đứng hàng thứ 10 trong số 10 nguyên nhân tử vong hàng đầu của những bệnh nhân nhập viện .

            Tại thành phố hồ chí minh , từ năm 1975 dịch SXHD xảy ra cùng lúc với những tỉnh thành khác ở miền nam vào nhữnh năm 1975, 1979, 1983, 1987. Tỉ suất bệnh trong  2 trận dịch 1983, và?1987 là 799,9/100.000dânvà 721,4/100.000, tương ứng. Tỉ suất chết vì bệnhtrung bình là 0,55%. Dịch xảy ra ở những quận nội thành rồi lan ra những quận ngoại thành . Trong những quận nội thnành, dịch xảy ra ở những nơi đông dân cư. Lứa tuổi mắc bệnh nhiều nhứt là 5-9 tuổi(39,5%) và 10-15 tuổi (29,6%) (17)

NHỮNG ẢNH HƯỞNG VỀ KINH TẾ CỦA SXHD

            Ở Jakarta ( In-đô- nê- xi- a), từ năm 1975-1978 thời gian nằm viện điều trị trung bình của 1.300 bệnh nhi là 3,5 ngày . Trong vụ dịch SXHD do DEN-2, DEN- 3 gây ra ở Puerto Rico , tổn phí cho điều trị là 6 triệu đô la mỹ , và 16 triệu đô la mỹ do nghĩ việc và công tác phòng chống . Chi phí điều trị và phòng chống của trận dịch SXHD/HCSDnăm 1981 ở Cu ba là 100 triệu đô- la mỹ. Ở Thái lan chỉ trong vụ dịch SXHDnăm 1980 , chi phí cho điều trị và diệt muỗi là 6,8 triệu đô-la mỹ(1) . Trung bình, hằng năm chính phủ Thái lan chi khoảng 100 triệu đô-la mỹ cho điều trị, và 360.000 đô-la mỹcho hoá chất sử dụng trong chương trình phòng chống (14) . Chưa có nhữ?g dử kiện chính thức được thông báo ở việt nam về tổn phí do những trận dịch SXHD gây ra ở mức 1 ( cấp huyện hay cấp tỉnh hẻo lánh, với những trang bị dưới chuẩn ) là 400 đô-la mỹ cho 100 ca sốc, và ở mức 2 (cấp bệnh viện tỉnhhoặc thành phố vớinhững trang bị tối thiểu )là 1.130 đô-la mỹcho 100 ca sốc.

NHỮNG YẾU TỐ GIA TĂNG TỈ SUẤT BỆNH SXHD TRONG CỘNG ÐỒNG

                Theo Gubler (10) , có ba yếu tố chính góp phần làm gia tăng bệnh SXHD. Ðó là: (1) thiếu những biện pháp kiểm soát muỗi lâu dài, có hiệu quà ởhầu hết những nước trong vùng nhiệt đới (2) sự gia tăng thành thị hoá ở những nước nói trên (3) sự gia tăng đi lại bằng đường hàng không trong 20 năm qua đã tạo nên cơ chế lý tưởng cho việc chuyên chở vi rút Dengue giưã những trung tâm dân số trong vùng nhiệt đới. Cả 3 yếu tố nói trên là gồm đủ trong giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của việt nam hiện nay.

            Trong nhiều năm trước đây , việc phòng chống dịch thường chủ yếu dựa vào những trương trình kiểm soát muỗi có tính khẩn cấp . Những trương trình này là không hiệu quả , vì những hoá chất được sử dụng để diệt muỗi  gần như không có tác dụng với những quần thể muỗi A. aegypti hoang dại ; và việc giàm sát dịch của chúng ta thường không nhạy (11) . Hầu hết những trung tâm y tế dự phòng ở các tỉnh phía nam thường chờ khi xảy ra dịch mới tiến hành những biện pháp can thiệp , do đó đã quá muộn vì dịch đã lên cao điểm (8) .

            ở các nước kém , hoặc các nước đang phát triển , sự gia tăng dân số là không kiểm soát được , và người dân có khuynh hướng tập trung vào những trung tâmthành thị để có đời sống cao hơn. Ðiều này đã ảnh hưởng đến mật độ và sự phân phối của A. aegypti, từ đó ảnh hưởng đến những đặc tính dịch tể của SXHD (15) . Ở thái lan trong thập niên 1950 , những trường hợp SXHD đầu tiên được ghi nhận xuất phát từ băng cốc . Từ 1985 , đa số các trường hợp là xuất phát từ bên ngoài khu vực thành thị

(13) . Phương tiện giao thông phát triển , đặt biệt của đường hàng không , là yếu tố thuận lợi cho sự lan rộng của bệnh . Thời kỳ đầu của việc nam dịch SXHD chỉ xảy ra ở những quần thể đông đúc , nhưng dần dần lan rộng hơn. Từ năm 1975 , dịch SXHD đã xảy ra khắp 16 tỉnh chỉ trừ khu vực miền núi . trong khoảng 1975-1981, hàng năm thành phố hồ chí minh có số bệnh nhân cao nhứt , nhưng từ năm 1982 , các tỉnh khác lại mắc nhiều hơn . Trong năm 1988, trận dịch lớn đầu tiên đã xảy ra ở Bả? lộc- Lâm đồng một tỉnh khu vực miền núi , và từ đó SXHD đả xảy ra khắp tỉnh thành miền nam (8)

            Trong trận dịch 1987 , typ vi- rut gây bệnh chính là DEN-2 . Ðến năm 1990, DEN-1 được nhập vào thành phố Hồ chí minh , Long an , Ðồng nai, lưu hành cùng lúc với DEN-2 . Cuối trận dịch này , DEN-4 được phân lập . Vào 1992 , DEN-2 lưu hành nhiều trở lại (8) , và trong năm 1994-1995 , DEN -3 xuất hiện, trùng hợp với sự tăng cao của số mắc và chết cũng như độ nặng của bệnh. Sự lan tràn của DEN -3 có thể tạo nên một mối đe doạ nghiêm trọng mới(9).

VẤN ÐỀ PHÒNG CHỐNG SXHD

            Vì cho đến nay vẫn chưa có vac-xin ngừa SXHD nên  vấn đề phòng chống chủ yếu dựa vào những chương trình kiểm soát muỗi. Khả năng xảy ra dịch SXHD có liên quan đến mật độ muỗi, đặc biệt là muỗi A. aegypti, trung gian truyền bệnh hữu hiệu nhất, vì có thói quen sống trong nhà. Cho đến nay, người ta chưa xác định chính xác mật độ dân số muỗi là bao nhiêu để SXHD có thể bùng phát dịch hoặc chỉ lưu hành trong một cộng đồng(7).

            Chúng ta biết rằng khả năng để xảy ra SXHD có thể được giảm đáng kể chỉ đơn giản bằng cách giảm tỉ suất bệnh mới và cách duy nhất để đạt được điều này là kiểm soát muỗi. Những biện pháp cổ điển được dùng để kiểm soát muỗi trong hơn 5 thập niên trước đây chủ yếu dựa vào chính quyền nhà nước, là một cách tiếp cận "trên-xuống" (top-down). Trong gần suốt 20 năm liền, người ta cho rằng biện pháp hữu hiệu nhất để diệt muỗi A. aegypti trưởng thành ở những vùng thành thị là sử dụng hóa chất phun ở dạng thể tích cực nhỏ (ultra low volume). Nhưng thực tế đã chứng minh rằng biện pháp này có rất ít, nếu không nói là chẳng có hiệu quả gì đối với muỗi A. aegypti hoang dại và đối với  việc truyền SXHD. Trong khi đó, ảnh hưởng do độc tính của hóa chất đối với con người còn nhiều hơn đối với muỗi. Ưu điểm của cách tiếp cận "trên-xuống" là nếu được thực hiện tốt, nó bảo đảm bao phủ được cả một vùng, thành công nhanh và có khi thanh toán được hết muỗi trong giai đoạn đó. Tuy nhiên, chi phí rất cao và hơn nữa nó làm cho người dân có tinh ỷ lại và thậm chí cho rằng những cơ quan nhà nước có trách nhiệm phải diệt muỗi sinh sản trong nhà của họ, những con muỗi do chính lỗi của họ gây ra vì đã không quản lý tốt những vật chứa nước. Trớ trêu thay, nhà nước lại chấp nhận vai trò bảo vệ cho người dân và hứa hẹn những kết quả mà thường là không thể đạt được với những biện pháp kiểm soát muỗi đang sử dụng hiện nay. Khuyết điểm của cách tiếp cận "trên-xuống" là không có hiệu quả lâu dài vì không duy trì được. Những biện pháp kiểm soát muỗi theo cách tiếp cận này đã rất thành công ở châu Mỹ trong những thập niên trước, nhưng sau khi ngưng thực hiện trong khoảng 20 năm, A. aegypti đã tái xâm nhập vào châu Mỹ với hậu quả là những trận dịch lớn SXHD theo sau. Ðây là một thí dụ điển hình và là một bằng chứng nhắc nhở rằng cách tiếp cận "trên-xuống" là không có hiệu quả lâu dài(11).

            Hiện nay, xét về khía cạnh hiệu quả, tổn phí và tác dụng lâu dài, nhiều bằng chứng đã cho thấy rằng cách tiếp cận từ dưới-lên (bottom-up) dựa vào cộng đồng là hứa hẹn nhất(11). Những chương trình kiểm soát SXHD ở Thái Lan, Mianma, In-đô-nê-xi-a là những thí dụ  của những chương trình hành động được chính cộng đồng thực hiện trong những chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu. Ở Thái Lan(14), chương trình kiểm soát côn trùng trung gian tập trung vào : 1) giảm nguồn sinh sản của muỗi qua sự tham gia của cộng đồng, 2) sử dụng Abate để diệt ấu trùng muỗi trong tất cả những vật chứa nước, 3) phun xịt hóa chất diệt muỗi trưởng thành khi có dịch hoặc ở những vùng có mật độ muỗi cao, 4) bảo vệ người khỏi bị muỗi cắn bằng cách sử dụng những biện pháp xua muỗi, ngũ mùng, sử dụng màn cửa, nhang muỗi. Tuy nhiên, những vấn đề phát sinh từ chất hóa học dùng để diệt ấu trùng và muỗi trưởng thành bao gồm tổn phí, sử dụng lặp lại theo chu kỳ, sự chấp nhận của cộng đồng (đặc biệt đối với hóa chất diệt ấu trùng như Abate thả trong nước sinh hoạt thường gây mùi khó chịu), và ô nhiễm môi trường. Do đó, hiện nay biện pháp hiệu quả nhất vẫn là giảm nguồn sinh sản của muỗi qua sự tham gia của cộng đồng.

            Có những yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho muỗi A. aegypty phát triển, từ đó làm gia tăng mật độ muỗi trong cộng đồng dân cư và tăng khả năng tiếp xúc giữa muỗi và người. Hành vi của cá nhân hoặc của một cộng đồng là một trong những yếu tố đó. Tổ chức Y tế thế giới đã nhấn mạnh rằng  sự phân bố của muỗi  và những nơi sinh sản của muỗi A. aegypty ở hầu hết mọi nơi cho thấy là việc kiểm soát muỗi có thể được thực hiện bởi chính những thành viên của cộng đồng. Những biện pháp kiểm soát đó bao gồm súc rửa vật chứa nước, lấp những lỗ cây với cát hoặc xi măng, nuôi cá diệt ấu trùng muỗi, đậy nắp những vật chứa nước sinh hoạt và dùng Abate để diệt ấu trùng. Ðó là những  việc làm rất nhiều và đơn giản có thể được thực hiện dễ dàng bởi người dân, miễn là chúng ta có thể thuyết phục được họ về lợi ích của chúng(19).

            Ðể chọn được những biện pháp kiểm soát côn trùng trung gian và những chiến lược giáo dục sức khỏe thích hợp, chúng ta cần hiểu biết về những hành vi của người dân và những yếu tố ảnh hưởng đến những hành vi đó. Những hành vi của con người có liên quan đến việc kiểm soát côn trùng trung gian gồm có :

 

1. Những hành vi ảnh hưởng đến sự sinh sản của côn trùng trung gian bao gồm những hành vi tạo ra chỗ cho muỗi đẻ trứng. Trữ nước sinh hoạt trong những vật chứa là một hành vi phổ biến ở những nơi tập trung dân cư mà nước máy không được cung cấp đầy đủ. Những dụng cụchứa nước này là nơi muỗi đẻ trứng . Ngoài những dụng cụ chứa nước sinh hoạt , những vật chứa nước khác trong gia đình mà muỗi có thể đẻtrứng là những chén đựng nước để chống kiến dưới chân tủ đựng thức ăn , bình hoa ,vv (6). Trong khuôn viên quanh nhà , nhiều loại đồ vật là những nơi muỗi đẻ , đặt biệt là nhựng vật phế thải như vỏ xe cũ, tô chèn bể, lon thiết ,gáo dừa, vv (5) .Súc rữa thường xuyên những vật chứa nước , và thay nước bên trong có thể phá vỡ vòng đời của muỗi . Ðậy nắp những vật chứa nước sinh hoạt; xử lý nước là những biện pháp kiểm soát muỗi hiệu quả .

2.Những hành vi làm tăng hoặc giảm sự tiếp xúc giưã người và côn trùng trung gian , từ đó tăng hoặc giảm những cơ hội khiến cho người bị muỗi cắn.Cách sử dụng nhà ở là một yếu tố liên quan đếnsự tiếp xúc giưã muỗi và người, đặc biệt là trong những căn phòng nhiều đồ đạc bề bộn là nơi mà muỗi có thể trú ẩn trong quần áo, đồ gỗ, vv. Dù rằng hoạt động hút máu chủ yếu xảy ra vào ban ngày (sáng sớm và xế chiều, nghĩ vào giữa trưa), nhưng muỗi A. aegypty vẫn có thể hoạt động vào ban đêm(20). Ngũ mùng là một thói quen phổ biến từ lân ở những vùng nhiệt đới Phi Châu, Mỹ Châu và Á Châu và nếu được sử dụng đúng, mùng ngũ là một biện pháp hiệu quả để chống muỗi cắn. Nhang muỗi là một biện pháp xua muỗi được sử dụng rộng rãi ở những khu vực Tây Thái Bình Dương, Ðông Nam Á, Trung Mỹ , Nam Mỹ và Phi Châu. Chúng thường chứa prrethroid, một chất diệt côn trùng và khói của chúng có tác dụng xua muỗi. Ở những vùng thành thị, "nhang muỗi dùng điện" phổ biến hơn. Bình thuốc xịt muỗi cầm tay là biện pháp phổ biến khắp thế giới để xua và diệt muỗi.

3.Ngoài ra, còn có những loại hành vi liên quan đến sự chấp nhận và sử dụng những biện pháp kiểm soát côn trùng trung gian.

Tất cả những hành vi nói trên, dù của cá nhân hay của cộng đồng, đều bị ảnh hưởng bởi kiến thức, niềm tin, những giá trị, thái độ, kỹ năng, tài chánh, vật tư, thời gian và ảnh hưởng của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những nhà lãnh đạo tư tưởng và ngay cả những nhân viên y tế. Giáo dục sức khỏe, sự lựa chọn những biện pháp can thiệp thích hợp trong việc kiểm soát muỗi được đìi hỏi phải xem xét nghiêm túc những bối cảnh xã hội và cộng đồng mà trong đó một loại hành vi xảy ra. Nếu xem gia đình là một đơn vị của xã hội, thì sẽ có những loại hành vi của người dân ở mức độ gia đình có thể tạo ra những kết quả tốt cho những chương trình kiểm soát muỗi.

Tóm lại, những sự phát triển kinh tế, xã hội đã dẫn đến những thay đổi trong mô hình bệnh, cách thức lan truyền, typ virút lưu hành ; trong khi đó những chương trình giám sát, phòng chống không kịp thời, với sự tham gia của cộng đồng chưa cao nên hiệu quả còn kém, tất cả đã khiến cho việc kiểm soát SXHD trở nên phức tạp. Tuy nhiên, những phân tích trên đây đã cho thấy rằng có những hành vi của các nhân hoặc của cộng đồn, dù rất nhỏ, rất đơn giản, nhưng nếu tích cực, sẽ là một nhân tố cơ bản cho sự thành công lâu dài của những biện pháp kiểm soát muỗi, từ đó có phể phávỡ được dây chuyền lây của SXHD. Ðáng tiếc là cho đến nay điều này vẫn chưa được nhận ra, vì chính người dân cũng chưa nhận thức được rằng cũng có những loại hành vi của họ đã góp một phần đáng kể trong quá trình phát sinh và lan truyền SXHD. Dù sao, sẽ là không muộn nếu như Walt Kelly đã nói : "chúng ta đã gặp kẽ thù, và nó là chính chúng ta"(12).

TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT

1.      ÐỖ QUANG HÀ. Những hiểu biết hiện nay  về vi-rút Dengue và dịch Dengue xuất huyết. Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Pasteur TP.HCM,1993.

2.      ÐỖ QUANG HÀ, TRẦN TIẾN VÀ CS. Dịch Dengue xuất huyết tại Việt Nam từ 1975-1983. Báo cáo tại hội thảo khoa học về cây thuốc và bệnh nhiệt đới 1984.

3.      Niên giám thống kê y tế 1995. Phòng Thống kê và Tin học Bộ Y tế, 1995.

4.      TRẦN TẤN TRÂM. Tiếp liệu trong điều trị SXHD. Phân tích giá cả/hiệu quả các trang bị. Trong : Gíam sát và phòng chống dịch Dengue xuất huyết của khu vực phía Nam . Tài liệu tập huấn. Viện Paereur TP. Hồ Chí Minh và Tổ chức Y tế  Thế giới Khu vực Tây Thái Bình Dương. TP. Hồ Chí Minh 7-1993 : 28-31.

5.      CHANDLER READ, Introduction to parasitology. John Wiley and Sons, USA . 1961 : 715 - 752.

6.      CHEONG, W. H. PREFERRED A. acgypti larval habitats in urban areas. Bulletin of the W. H. O 1967 : 36 : 586-9.

7.      Dengue haemorrhagis fever : diagnosis, treatment and contro. W. H. O. Geneva, 1986.

8.      DO QUANG HA, VU THI QUE  HUONG, HUYNH THI KIM LOAN, DINH QUOC THONG, VICENT DEUBEL. Dengue Haemorrhagic Fever in the South of Vietnam during 1975-1992 and Its Control Strategy. Trop. Med. Dec 1994, 36(4) : 187-201.

9.      DO QUANG HA, VU THI QUE HUONG, HUYNH THI KIM LOAN, CAO MINH THANG, PHAN KIM SAX. Dengue and Dengue Haemorrhagic Fever in South Vietnam during 1995. (Personal communication).

10.  GUBLER D. J. Aedes aegypti and Aedes acgypti-borne discases control in the 1990s : top down or bottom up. Am. J. Trop. Med. Hyg. 1989 ; 40(6) : 571-578 (9-11).

11.  GUBLER D. J. Surveillance for Dengue Hemorrhagic Fever. Bulletin of PAHO. 1989, 23 (4) : 397-403.

12.  HALSTEAD S. B. Selective Primary Health Care : Strategies for Control of Disease in the Developing World. XI. Dengue. Reviews of Infectious Diseases. March-April 1984 : 6(2) : 251-264.

13.  LIMPAKARNJANARAT K. THIRATKUL A. UNGCHUSAK K. There decades of DHF : suryeillance in Thailand, 1958-1987 Dengue Newsletter. W. H. O Feb 1991 : 16 : 11-17.

14.  MATURASAPAS, W. The result of evaluation of Dengue Hemorrhagic Fever prevention and control program 1977-1980 Journal of Communicable discase 1981 : 7 : 327 - 347.

15.  MONATH, T. P. Dengue : The risk to developed and deyeloping countries. In : Proc. Natl. Acad. Sci USA. Colloquium Paper March 1994. Vol. 91 : 2395-2400.

16.  NGUYEN THUY HOA. Country report on Dengue fever/Dengue haemorrhagic fever and Japanese encephalitis in Vietnam. Trop Med. Dec 1994 ; 36(4) : 170 - 76.

17.  NGUYEN DUY THANH, PHAM NGOC GIAO. Epidemiology and Clinical Features of Dengue Hemorrhagic Fever in Hochiminh city and the Center for TROPICAL Diseases, Vietnam. TROP. Med. Dec 1994 ; 36(4) : 177-186.

18.  UMENAL T. SUZUKI. Review of Dengue Fever/Dengue Haemorrhagic Fever situation I the Western Pacific Region in 1988. Dengue Newsletter, 15 : 21-24.

19.  Vector control in primary health care. W. O. Techmical report series. N0. 755. Geneva . 1987.

20.  SCHOOF, H. F. MATING, resting habits and dispersal of A. aegypti. Bulletin of the W. H. O. 1967 ; 36 : 600-1.

<< Ðầu trang