NHỮNG VÙNG LƯU HÀNH BỆNH SÁN LÁ PHỔI

Trần Thị Kim Dung *

TÓM TẮT

Bệnh sán lá phổi do Paragonimus sp đã và đang lưu hành ở châu Á : Lào, Thái Lan, Trung Quốc, Nhật, Ðại Hàn, Việt Nam ; Châu Phi : Camcroon, Nigreria ; Châu Mỹ : Ecuador, Peru, Cuba, Comombia,. Tỷ lệ nhiễm thay đổi tùy vùng. Nếu có chính sách tiêu diệt bệnh tốt, tỷ lệ nhiễm sẽ giảm hẳn. Thí dụ ở Nhật, từ 1954 đến 1968, một điều tra ở 7 quận cho thấy tỷ lệ dương tính là 10,4%, đến 1981, xét nghiệm phân âm tính hoàn toàn. Ở Việt Nam, năm 1994 đã phát hiện một ổ dịch ở Sìn Hồ, Lai Châu, 17 bệnh nhân có trứng trong đờm trên tổng số 291 mẫu thử. Số bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng là 300-400. Ðiều tra dịch tễ học bệnh sán lá phổi tại vùng Tây Bắc Việt Nam đang được tiến hành.

SUMMARY

THE CURCULATED REGIONS OF PARAGONIMIASIS

Trần Thị Kim Dung* Y học TP. Ho Chi Minh* N0 - Series 1 - 1997 : 26-30

The Paragonimus has been cireulated in many countries in the world : In Asia : Laos, Thailand, China, Japan, Korea, Vietnam ; In Africa : Cameroon, Nigeria : In America : Ecuador, Peru, Cuba, Colombia. The pereentage of the infection depends on the regions ; if they have good policy to climinate this diseases : the infection pereentage is deereased clearly. Fox example, in Japan, from 1954 to 1968, the positive pereentage of 7 districts teas 10,4%, in 1981, all the stool examinations were negative. In Viet Nam, we have an epidemic area : Sìn Hồ districts in La - Châu province : 17 positive cases in 291 sputum samples. 300-400 persons have the clinical mainifestations of this disease. An epidemic investigate has been implemented in the West - North of Viet Nam.

ÐẠI CƯƠNG

Sán lá phổi (Paragonimus sp) thuộc lớp Trematoda, dài từ 8 - 16mm thân mập, tựa như một hạt cà phê, màu nâu hay màu đỏ, có một mặt dẹt và một mặt lồi, sống trong phổi người hoặc các loài hữu nhũ như chó nhà, chó rừng, heo,. Trứng hình bầu dục, màu nâu sẫm, kích thước 59-90mcm, có nắp bằng, theo đờm ra ngoài (nhưng đôi khi gặp trứng trong phân nếu bệnh nhân nuốt đờm, nhất là ở trẻ em).

Trứng theo đờm ra ngoài, cho ra ấu trùng lông. Chu trình phát triển phải qua 2 ký chủ trung gian, một là loài ốc đặc thù của nó, hai là những loài tôm, cua nước ngọt và biến thành nang trùng ở cơ ngực của những con giáp xác đó. Người hoặc thú mắc bệnh vì ăn nhằm tôm cua nhiễm trùng nấu không chín. Khi vào tới tá tràng, nang trùng xuyên qua thành ruột tới xoang bụng, ở đó độ 30 ngày rồi đi ngang qua cơ hoành, màng phổi để tới phế quản.

Sán lá phổi còn có thể ký sinh ở dưới da, xoang bụng, gan, tinh hòan và nhất là não.

Phổi bị ký sinh bởi sán có những nang to bằng đầu ngón tay, có khi nối tiếp nhau tạo thành chuỗi hoặc thành một khối nang lớn. Trong nang thường có 2 sán và một dịch mủ đỏ. Sự hiện diện của sán có thể làm thay đổi tổ chức bình thường của phế quản, từ biểu bì hình trụ chuyển thành biểu bì hình lát nhiều tầng.

Bệnh biểu lộ bằng những cơn ho có đờm lẫn máu làm cho lầm tưởng bị lao phổi. Ðờm thường màu rỉ sắt và ho có thể trở thành mãn tính. Có khi ho ra máu thật sự. Nếu sán khu trú ở não, có thể gây chứng động kinh, liệt nữa thân.

Theo Tổ chức y tế thế giới, tính đến năm 1995, đã có 40 triệu người bị nhiễm sán lá phổi, phổ biến ở vùng Ðông Nam châu Á và Tây Thái Bình Dương. Mắc bệnh do thực phẩm, do sinh thái, yếu tố môi trường và nhất là do nghèo khó và phát triển dân số. Ký sinh trùng truyền đi được là do thói quen sinh hoạt, đặc biệt là do tập quán ăn uống ở vùng có địch.

Ðiểm qua tình hình nhiễm sán lá phổi có một số nước trên thế giới, theo Tổ chức y tế thế giới, bệnh sán lá phổi được phân phối như sau :

CHÂU Á

Lào

Tỷ lệ nhiễm thấp : 0,5%, được phát hiện ở những người lao phổi ; chỉ có 151 mẫu đờm có trứng được tìm thấy từ năm 1968 đến năm 1972 trong 5 cơ sở y tế. Với thử nghiệm nói bì, dùng kháng nguyên là Paragonimus westermani, thực hiện trên những quần thể ở Pakse, Suvanaket, Vientiane, Ban Xon, Sanakha, Huang Prabang và Huay Sai, 151 người dương tính (9,8%), 22 người mắc bệnh với biểu hiện lâm sàng rõ. Với Pheterotremus, cũng là tác nhân gây bệnh sán lá phổi, đã tìm thấy trứng trong phân ở những bệnh nhân đầu tiên tại bệnh viện Vientiane.

Thái Lan

Có 6 loại Paragonimus ở Thái Lan, chỉ có 2 loại gây bệnh ở người là P.westermani P. heterotremus. Hai vùng dịch ở trung tâm này là tỉnh Sara Buri và Nakhon Najok. Ở phía bắc, nơi có dịch là tỉnh Chiang Rai và Phitsanulok.

Trung Quốc

Ổ dịch đầu tiên của P. westermani ở trung quốc được phát hiện ở tỉh zhejiang năm 1930. Mặc dủ có hơn 20 loại và dưới loại được báo cáo ở trung quốc , chỉ có 4 loại quan trọng về mặt y học : P. westermani, P. skrjabini, P. heterotremus, P. hueitungensis. P. westermani hiện diện ở 17 tỉnh ( Ðài loan không kể ở đâây dù bệnh sán lá phổi khá phổ biến ). P. skrjabini thường thấy ở vùng núi cùa 14 tỉnh là loại phổ biến thứ 2. Ở người có thể thấy bệnh ở mô dưới da.

Bệnh sán lá phổi đã được báo cáo có ở 21 tỉnh ớ trung quốc . 5 tỉnh có được 1000 người nhiễm . 8 tỉnh từ 100- 1000 người . Những điều tra về dịch học cho thấy nang ấu trùng ở ký chủ trung gian thứ hai (cua hay tôm lớn) có ở 422 quận . Từ những dữ liệu trên , có thể đánh giá rằng quần thể có nguy cơ nhiễm sán lá phổi ở trung quốc là 185 triệu.

Giaó dục sức khẻo để nâng cao hiểu biết của nhân dânđã góp phần quan trọngđể đẩy lùi bệnh này , đặt biệt là những năm 50. Khi chưa có thuốc hiệu quả. Thí dụ như ở lantinh township thuộc quận shaosing, tỉnh zhejiang có nơi có dịch cao độ , giaó dục sức khẻo đã thành công khi thay đổi được tập quán ăn uống của dân làng là hay ăn cua sống . Sau này, khi kết hợp điều trị với Bithionol, tỷ lệ nhiễm trứng trong đờm đã giảm đáng kể : từ 31,1% năm 1951 còn 0.05 năm 1979, tỷ lệ nhiễm ở chó và mèo tứ 31,5%- 100% còn 7,8% năm 1975, vài làng của quận Kuandian thuộc tỉnh Liaoning 30-50% học sinh có đáp ứng dương tính với thử nghiệm nội bì và 10-20% có biểu hiện lâm sàng rỏ rệt . Sau 18 năm cũng không còn có đáp ứng dương tính nào ởï quận Kuandian: tỷ lệ nang trùng ở tôm lớn giảm từ 50-80% còn 5-10% và mật độ nhiễm giảm từ 10-200 còn 1-2 nang trùng ởmỗi con.

Dẫu sao, bệnh sán lá phổi vẫn còn là mối đe doạ cho sức khẻo cộng đồng ở trung quốc , đặt biệt ở vủng núi. Nơi mà bệnh thường xuyên lưu hành, điều kiện chẩn đoán và điều trị còn thiếu thốn . Năm 1992, trung quốc đã thành lập một chương trình quôc gia , dựa căn bản trên việc giaó dục sức khẻo cộng đồng và điều trị đặc hiệu như một ưu tiên. Mục đích của chương trình là loại trừ dịch vào năm 1995 và loại trừ sự lây truyền vào năm 2004

NHẬT

Những điều tra bằng thử nghiệm nội bì cho thấy dương tính là 3,5% trong số 146.698 người ở 7 quận từ năm 1954-1968. Tỷlệ trứng dương tính là 10.4% ở những người vừa dương tính huyết thanh học, vừa dương tính với thử nghiệm nội bì. Từ 1994, với điều trị cá thể và với chương trình kiểm soát của bộ y tế, tỷ lệ nhiễm sán láphổi giảm dần cho tới khi không còn thấy trừng trong phân từ 1981. Tuy nhiên, những trường hợp lẻ tẻ bị nhiễm P. westermani và P. miyazakiicũng đã được phát hiện sau khi điều tra hàng loạt bắng thử nghiệm huyết thanh học cách đây vài năm. Váo năm 1991, khoảng 1000 người bị cho là đã bị nhiễm tức tỷ lệdưới 1/100.000. Tôm nước ngọt bị nhiễm( Eriocheir japonicus) được thấy ở quận Miyazaki. Kyushu, Ehimer, Shikoku, và honshu (6).

Ðại Hàn

Khoảng 6 triệu dân ở 4 tỉnh (Chejudo, Chollanamdo, Chollabukdo và Kangwondo, chiếm khoảng 25% dân số) đang có nguy cơ bị sán lá phổi do P. westermani và kế đó là P. iloklsuenensis. Trong những năm 20, tỷ lệ trứng dương tính là 9,4% trên 180.351 người được khảo sát. Năm 1959, một điều tra quốc gia dùng P. westermani làm kháng nguyên, tiêm trong da cho thấy tỷ lệ nhiễm 13%. Vào những năm 60, Bithionol được sử dụng rộng rãi cho dân ở những làng có dịch tại Chejudo. Người ta nhận thấy vào những năm 70 cũng có sự hủy hoại sinh thái nặng nề khi ruộng lúa, sông và suối đi qua vùng có dịch nặng đã bị nhiễm thuốc trừ cỏ, trừ sâu, chất thải công nghiệp nên đồng thời cũng hủy diệt trung gian truyền bệnh. Vừa dùng thuốc, vừa có sự thay đổi sinh thái, những trường hợp dương tính về trứng của P. westermani giảm từ 1482 trong những năm 70 còn 241 vào năm 1980, 16 vào năm 1990 trên tổng số 16 triệu mẫu phân được khảo sát hàng năm. Tại Seoul, từ 100 đến 150 người có phản ứng huyết thanh dương tính được phát hiện hàng năm bằng kỹ thuật ELISA trong một phòng thí nghiệm chuẩn của một bệnh viện.

Những nơi khác ở châu Á

Những ổ dịch hay nhiễm lẻ tẻ đã được phát hiện ở Campuchia, quận Manipur ở Ấn Ðộ, Nam Dương, Myanmar, Nepal, Phi luật Tân, viễn đông nước Nga và Việt Nam.

CHÂU PHI(7)

Cameroon

Cameroon là một trong những vùng ở Phi Châu nơi dịch sán lá phổi rất đáng kể vì dân có tập quán truyền thống là ăn cua sống. Hai loại sán lá phổi có ở đây là P. africanus P. uterobilateralis. Ở những làng như Bakosi ở Kumba và Mene ở vùng Tây Nam, tỷ lệ nhiễm từ 5 - 10% ; tỷ lệ này cao trong nhóm tuổi từ 10 - 19 tuổi; tỷ lệ lao phổi ở đó là 1,5%, 4 ổ bệnh sán lá phổi hiện diện ở Tây Nam Cameroon, nơi những loài vật thượng đẳng bị nhiễm đầu tiên : vùng Mount Kupe, Mbam, Nyong và Ntem. Ở phía tây Cameroon, khi nhiễm tự nhiên (Mandrillus leucophacus) là tàng chủ của bệnh sán lá phổi nhưng người bị nhiễm thì chưa được báo cáo ở đây.

Nigeria

P. uterobilateralis là loại chiếm ưu thế, ở Nigrea. Vùng dịch lớn là Imo và lưu vực sông Cross River ở phía Ðông Nigeria. Trong những năm 70, hơn 10% học sinh dương tính với thử nghiệm nội bì, dùng kháng nguyên là P. westermani, tuổi dưới 20, đỉnh cao từ 10 - 14.

Bệnh còn thấy ở Burkina Faso, Trung Phi, Congo, Côte d’ Ivoire, Guinea, Gabon, Liberia, Sierra Leone, Zarne và Zambia. Bệnh lây truyền do hay ăn cua sống và chữa bệnh theo phương pháp cổ truyền dùng nước cua nghiền.

CHÂU MỸ(7)

Ecuador

Từ 1980, cua nước ngọt bị nhiễm đã được tìm thấy ở 15/22 tỉnh của Ecuador, đặc biệt là vùng Amazon. Dân có nguy cơ nhiễm bệnh vào khoảng 1/5 hay vào khoảng ½ ở nông thôn. Tỷ lệ dương tính là 24,3% đối với phản ứng huyết thanh, có hay không có cả trứng dương tính và 12,3% thấy trứng dương tính trong đờm. Như vậy có ít nhất khoảng 494.000 dân bị nhiễm.

Peru

Cua bị nhiễm nang trùng của nhiều loại sán lá phổi khác nhau đã được tìm thấy ở 5/23 tỉnh của Peru. Bệnh thành dịch chủ yếu là ở vùng nông thôn của thung lũng Condebamba thuộc tỉnh Cajamarka. Khảo sát huyết thanh học đã xác định có 9,6% hay vào khoảng 27.000 dân đã bị nihễm do có tập quán ăn cua sống. Bệnh cũng được nghi ngờ là đã hiện diện ở vùng Amazon nhưng chưa có nghiền cứu nào được thực hiện ở đây.

Những nơi khác ở châu Mỹ

Có vài loại sán lá phổi ở châu Mỹ, trong đó có P. mexicanus được biết là gây bệnh ở người. Vùng dịch giới hạn hay những trường hợp lẻ tẻ xảy ra ở Canada, Colombia, Costa Rica, Cuba, El Salvador, Guatemala, Honduras, Mexico, Nicaragoa, Panama, liên bang Mỹ và Venezuela, 4 trường hợp đã được báo cáo ở Brasil, tất cả đều là người Nhật di tản.

CÁC KÝ CHỦ TRUNG GIAN

Nói đến dịch tễ học thì cũng phải quan tâm đến ký chủ trung gian. Sán lá phổi có hai ký chủ trung gian. Ký chủ trung gian thứ nhất là loại ốc đặc thù của nó, ký chủ trung gian thứ hai thuộc loài giáp xác, là tôm cua nước ngọt.

KÝ CHỦ TRUNG GIAN THỨ NHẤT : Ốc

Ðể hiểu được dịch học của bệnh và để kiểm soát được bệnh sớm, những hiểu biết về việc định danh và sinh thái của ốc là rất cần thiết.

Ðịnh danh

40 loại ốc thuộc 14 giống và 4 học (Pleurceridea, Thiaridae, Pomatiopsidae và Assimineidae) đã được báo cáo là có liên quan đến việc lây lan bệnh sán lá phổi ở châu Á.

Mặc dù còn một vài điều cần làm sáng tỏ trong việc phân loại ốc, những ốc chính đối với bệnh sán lá phổi cũng đã được mô tả kỹ :

Semisulcospira lipertina là ốc quan trọng nhất đối với P. westermani ở Trung Quốc, Nhật, Ðại Hàn.

Brotia spp là ốc chính ở Ðông Nam châu Á.

Ở Trung Quốc và Nhật, Tricula spp Erhaia (Bythinella) spp hoạt động như một ký chủ trung gian của P. miyazakii Bythinella nipponica akiyoshiensis.

Ở Thái Lan, ốc là ký chủ trung gian của P. westermani P. heterotremus chưa được xác định.

Ở Tây châu Phi, ký chủ trung gian của P. uterobilateralis có thể là Afropomus balanoides Potadoma sanctipauli ; Potadoma freethii đã được nghĩ là ký chủ trung gian của P. africanus.

Ở châu Mỹ, ốc nhỏ sống trong nước hoặc sống nửa nước nửa đất thuộc giống Aroapyrgus, Littoridina Pomatiopsis, họ Hydrobiidae là trung gian của Paragonimus spp ở đây.

Kiểm soát ký chủ trung gian ốc

Kiểm soát được ốc là cách để cắt đứt chu trình phát triển của ký sinh trùng và như thế sẽ ngăn được sự nhiễm vào người. Trước khi dùng phương pháp tiêu diệt ốc bằng chất hóa học thì phải dự đoán được ảnh hưởng của thuốc với môi trường, phải biết được khả năng nguy hại cho các loại cá, sò, hến, ốc vô hại khác.

Việc kiểm soát ốc tốt nhất phải dựa trên cơ sở có kiến thức đầy đủ về môi trường và sinh thái học về ốc.

KÝ CHỦ TRUNG GIAN THỨ HAI : loài giáp xác : tôm cua nước ngọt

Ấu trùng từ ốc sẽ nhiễm vào tôm cua nước ngoại. Nang trùng nằm trong thịt của chúng. Người ăn thịt tôm cua có mang nang trùng thì sẽ mắc bệnh. 50 loại từ 21 giống cua và tôm lớn đã được báo cáo là ký chủ trung gian của Paragonimus spp. Vài loại chính là : Eriocheir japonicus đối với P. westermani ; Potamon dehhaani đối với P. westermani P. miyaxakii ở Nhật ; Sinopotamon denticulatum đối với P. westermani P. skrjabini, Sinopotamon yaanense đối với P. skrjabini Cambaroides daurucus với P. westermani ở Trung Quốc.

BỆNH SÁN LÁ PHỔI TẠI VIỆT NAM

Ở Việt Nam, bệnh này cũng đã được ghi nhận từ rất lâu (Ðặng Văn Ngữ, Ðỗ Dương Thái 1960). Từ 1916 - 1970 có khoảng 20 trường hợp được phát hiện ở Việt Nam (Ðỗ Dương Thái 1974). Năm 1974, Phạm Song và N.T. Giỏi công bố 3 trường hợp gặp ở bệnh việt Việt - Xô và 1990, N. V. Sơn gặp 3 trường hợp ở bệnh viện Thanh Nhân.

Gần đây nhóm của Cao Văn Viên 1994 gặp thêm 2 trường hợp ở trẻ em 5 - 8 tuổi cùng được sinh ra và lớn lên tại huyện Sìn Hồ, Lai Châu, nơi có tập quán ăn cua nướng(5).

Từ 2 trường hợp trên, nhóm này tiếp tục điều tra bệnh sán lá phổi tại Sìn Hồ, Lai Châu, thấy tỷ lệ dương tính trứng trong đờm là 17 trường hợp trên tổng số 291 lượt bệnh nhân đến khám tự nguyện hoặc từ cơ sở giới thiệu vì có bệnh hô hấp. Khám ngẫu nhiên 125 học sinh ở trường thiếu niên dân tộc nội trú Sìn Hồ tìm trứng trong đờm thì 100% dương tính.

Nhóm đã cũng phân tích phổi của 2 con chó nhà (1-3 tuổi) và 1 con heo : kết quả thu được 2 sán lá phổi ở 1 con chó, đang chờ định loại.

Như vậy, có 17 bệnh nhân/251 mẫu thử có trứng sán lá phổi trong đờm, 1 chó/2 có sán lá phổi, tỷ lệ dân thường ăn cua nướng 89,6% : điều đó chắc chắn là huyện Sìn Hồ thuộc tỉnh Lai Châu, biên giới Việt Trung là nơi dịch sán lá phổi lưu hành mạnh. Sìn Hồ là huyện đầu nguồn suối Hoàng Hồ. Tác giả Cao Văn Viên dự đoán ở Sìn Hồ nhiễm sán lá phổi từ 10 - 20% và số bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng khoảng 300-400 trường hợp. Sìn Hồ là vùng dịch nhưng chưa được điều tra toàn diện nên số liệu nêu trên mới chỉ là bước đầu nghiên cứu.

Bộ môn Ký sinh học Khoa Y, ÐHYD TPHCM cũng đã hợp tác với nhóm nghiên cứu của Cao Văn Viện thuộc Sở Y tế Hà Nội vào khoảng tháng 6 - 1995 để chẩn đoán bệnh sán lá phổi bằng phương pháp huyết thanh miễn dịch học. Kỹ thuật dùng là kỹ thuật ELISA dùng kháng nguyên hòa tan, điều chế từ sán lá phổi trưởng thành, lấy từ chó nuôi tại Sìn Hồ, Lai Châu. Tất cả những bệnh nhân đã tìm thấy trứng trong đờm đều dương tính với ELISA, hiệu giá cao từ 1/3.200 - 1/12.800. Một số xét nghiệm tìm trứng trong đờm không có nhưng vẫn dương tính với ELISA.

Ðiều đó khiến chúng tôi nghĩ rằng dùng phương pháp huyết thanh miễn dịch học để điều tra dịch tễ học là điều rất nên thực hiện không chỉ ở Sìn Hồ, Lai Châu mà còn có thể dùng kỹ thuật này để xác định được bản đồ dịch tễ học trên quy mô rộng rãi hơn. Với kết quả của kỹ thuật ELISA thực hiện tại Bộ môn Ký sinh học Khoa Y, ÐHYD để chẩn đoán bệnh sán lá phổi chúng tôi sẽ báo cáo chi tiết trong công bố sau.

Chúng tôi đã điểm qua tình hình bệnh sán lá phổi tại một số nơi trên thế giới và tại Việt Nam. Với những tư liệu trên, hy vọng ngành Y tế nước ta sẽ có kế hoạch điều tra cơ bản, kế đó là điều trị, phòng ngừa trên qui mô toàn quốc để giảm tỉ lệ mắc bệnh trong nhân dân. Nếu được quan tâm đúng mức, bệnh sán lá phổi ở nước ta chắc chắn sẽ bị tiêu diệt trong một thời gian không xa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

ÐẶNG VĂN NGỮ - ÐỖ DƯƠNG THÁI : Sán lá phổi ký sinh trùng y học. Nhà xuất bản Hà Nội 1960, tr 201.

PHẠM SONG VÀ NT GIỎI : Nhân 3 trường hợp sán lá phổi Paragonimus. Y học thực hành, 183, 43-45, 1972.

N. V. SƠN VÀ PH. T. YẾN : Thông báo 3 trường hợp sán lá phổi Paragonimus được điều trị bằng Praziquantel. Hội thảo Quốc gia lần 2 về dịch tễ và phòng chống các bệnh giun sán chủ yếu ở Việt Nam, trang 10-14,1990.

ÐỖ DƯƠNG THÁI : Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng ở người. Nhà xuất bản y học, quyển 2 trang 543-546, 1990.

CAO VĂN VIÊN VÀ CỘNG SƯ : Thông báo một số kết quả nghiên cứu bước đầu bệnh sán lá phổi ở Sìn Hồ, Lai Châu. Y Dược Hà Nội, 2,16 - 20, tháng 3-4/1994.

SHIN D. D. JOO C. Y : Prevalence of Parogonimus westermani in some Ulchin school children. Acta Pediatr Jpn. 2, 269 - 274, 1990.

WORLD HEALTH ORGANIZATION 1995 : Control of foodborn trematode infection. Report of a WHO study group WHO technical report series : 849.

<< Ðầu trang