HÌNH ẢNH SIÊU ÂM CHẨN ÐOÁN TRONG BỆNH LÝ GAN LAN TỎA

Nguyễn Thiện Hùng* , Phan Thanh Hải*

TÓM TẮT

Một tổng quan về siêu âm chẩn đoán trong một số bệnh lý gan tỏa với lược sử vấn đề từ nhữngnăm 90, các vấn đề kỹ thuật và các sai sót có thể gặp phải được trình bày. Các tác giả đề nghị hệ thống tiêu chuẩn chẩn đoán viêm gan cấp và mạn tính và gan thấm mỡ bằng siêu âm ở 817 ca (nhóm I), có độ nhạy 96,81% và độ chính xác 93,39% khi đối chếu với dấu hiệu huyết thanh học HBV và HCV. Ở nhóm II (101 ca gan thấm mỡ), độ chính xác của siêu âm chẩn đoán là 89,10% so với các xét nghiệm cholesterol, triglycerids và các men gan AST, ALT (GOP, GPT). Các thay đổi về cấutrúc gan (kiểu echo, vách tĩnh mạch cửa, bờ gan, góc gan) và của túi mật được thống kê lại ở 1367 ca viêm gan siêu vi B và C (nhóm III). Vai trò và khả nang của siêu âm chẩn đoán trong bệnh lý gan lan tỏa cũng được đề cập trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, nhằm hạ thấp các nguy cơ viêm gan siêu vi và ung thư tế bào gan nguyên phát.

SUMMARY

ULTRASOUND DIAGNOSIS IN DIFFUSE LIVER DISEASES

Nguyễn Thiện Hùng - Phan Thanh Hải* Y học tp. Ho Chi Minh* N0 - 2 Series 1 - 1997: 1-6

An overview on lutrasound diagnosis in some of diffuse liverdiseases with the history from 1990, techniques and pitfalls was reviewed. Authrs proposed an systematization of criteria of acute and chronichepatitis and fatty infiltrating of liver : on 817 cases (group I) which had the sensibility of 96,81% and the accuracy of 93,39% in comparion withHBV and HCV serological markets. In group II (101cases) on fatty liver, the accuracy of US scanning was 89,105 with results of cholesterol, triglycerids and liver enzymes (AST,ALT). Some changes of liver structure (echo patterns, portal vein thickening, borders, liver angles) and gallbladder had been reported in 1367 cases of viral hepatitis B and C (group III). Authors also implicated the role and capacity of US scanning in diagnosis of difiuse liver disease, in primary healthcare to reduce the risks of viral hepatitis and hepatocell carcinoma in Vietnam.

MỞ ÐẦU

Siêu âm trong bệnh lý gan tỏa chưa được tổng kết trong hoàn cảnh bệnh lý nhiệt đới nước ta. Từ năm 1993, chúng tôi dùng siêu âm chẩn đoán như một phương tiện truy tìm và sàng lọc các bệnh lý gan nhất là viêm gan siêu vi nhằm góp phần phát hiện các bệnh lý gan còn ở thời kỳ có thể chữa khỏi và ít gây biến chứng nặng.

SIÊU ÂM THĂM DÒ BỆNH LÝ GAN

Tiêu chuẩn siêu âm để chẩn đóan viêm gan

Chẩn đoán viêm gan, nhất là viêm gan cấp , bằng siêu âm rất khó dù siêu âm có độ nhạy giúp phân biệt gan bình thường và bất thường(3).

Higashi và cs (1991) đã mô tả câu trúc siêu âm của viêm gan mạn (mặt sau gan, bờ dưới gan, biến dạng túi mật(4).

Kertz (1994), nói về viêm gan cấp với các thay đổi về kích thước gan, cấu trúc thô, dày sáng vách các nhánh tĩnh mạch cửa, của vách túi mật và bao gan, về sự giảm âm trong chủ mô gan(5).

Hagen-Ansert (1995), mô tả các thay đổi trong viêm gan cấp (giảm sinh echo gan, dày sáng cách tĩnh mạch cửa) và viêm gan mạn (chủ mô gan thô, tăng sinh echo, giảm cấu trúc mạch máu trong gan)(3).

Từ 1993, chúng tôi đã thiết lập các tiêu chuẩn chẩn đoán viêm gan (Xem bảng 1)

Bảng 1 : Tiêu chuẩn siêu âm chẩn đoán viêm gan

Tiêu chuẩn đề nghị

Viêm gan cấp

Viêm gan mạn

1. Kích thước

Lớn/Bình thường

Bình thường/teo

2. Bờ

Nhẵn

Không đều/Nhẵn

3. Mặt sau

Lõm

Lồi

4.Chủ mô (so sánh với lách)

Ðồng dạng :

- Kém

- Dày

 

Không đồng dạng với các hạt tái tạo         

Thô

5. Vách tĩnh mạch cửa

Echo dày và dày ? 5 ly

Echo dày và dày ? 5 ly

6. Túi mật

Vách phù nề hoặc không.

Không có mật

Méo dạng, vách không dày

Siêu âm chẩn đoán gan thấm mỡ

Gan thấm mỡ do ứ đọng triglycerid trong tế bào gan. Nguyên nhân gan thấm mỡ gồm uống rượu, dùng corticoid ngoại sinh, nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch, bệnh Cushing, đái tháo đường, hội chứng Reye, Kwashiokor, suy dinh dưỡng do ung thư hóa trị liệu vì ung thư, người béo,..

Muôn chẩn đoán chính xác phải dựa trên độ tập trung trung bình (đơn vị Hounsfield) trên ảnh chịp cắt lớp điện toán. Khi đậm độ gan kém hơn lách là có thể nghĩ đến gan thấm mỡ. Trên siêu âm nếu thấy gan sáng và lớn (75%), tĩnh mạch và các đường mật trong gan mờ khó xác định thì có thể nghĩ đến gan thấm mỡ. Siêu âm có thể phát hiện gan thấm mỡ nhẹ với độ nhạy 86% va0% với thể nặng và trung bình(5,6).

Tiêu chuẩn chẩn đoán gan thấm mỡ dựa vào y văn(6,13) và chúng tôi chỉ chọn các gan to (gan trái lớn hơn 10cm qua mặt cắt dọc qua động mạch chủ bụng, gan phải lớn hơn 15cm qua mặt cắtgian sườn ở bình diện thận phải). Ðối với vách tĩnh mạch cửa, chúng tôi chỉ chọn các vách giảm echo nhánh xa (gan thấm mỡ độ nhẹ) và giảm echo vách các nhánh chính (độ vừa)(8,10).

Histogram cường độ siêu âm

Trên siêu âm, bệnh lý gan lan tỏa thường được chẩn đoán dựa vào bậc thang xám (gray scale) gồm 32 hoặc 64 bậc, nên tùy thuộc vào sự đánh giá chủ quan bác sĩ siêu âm. Hiện nay một số máy siêu âm đã có thêm phần mềm vi tính đánh giá histogram cường độ siêu âm (histogram of echo intensity) để tăng cường tính khách quan, nhờ đo được cường độ siêu âm của một vùng cần biết bất kỳ, sosánh vùng đó với một vùng khác trên cùng một mặt cắt, cùng cách đầu dò một khoảng cách bằng nhau. Ở gan, khi mở cùng một cửasở (histogram plot) trên chủ mô thận và vùng gan tương ứng, một giản đồ (gray level graph) được vẽ lại, với các thông số như diện tích cửa sổ, biên độ echo, độ phân tán echo,.. đều có trên màn hình cùng lúc. Dùng độ chênh lệch biên độ echo trung bình giữa gan và thận. (Hist gan - Hist thận) để đánh giá chủ mô gan dày hoặc kém hơn thận.

HÌNH ẢNH SIÊU ÂM TRONG VIÊM GAN VÀ GAN THẤM MỠ

Trong viêm gan

Sự thay đổi cấu trúc echo ở viêm gan cấp, mạn, xơ gan được nhiều tác giả đề cập nhưng chưa hệ thống. Về kích thước, gan thường to trong viêm cấp, bình thường trong viêm mạn(3,4,5). Số liệu của chúng tôi cho thấy gan to thay đổi từ 24,1% đến 30,1%i. Trong viêm gan cấp có echo kém (dark liver). Số liệu của chúng tôi cho thấy gan có echo kém thay đổi từ 10,7% đến 12,1%. Trong viêm gan cấp do rượu, gan thường to, sáng (bright liver) và có giảm âm như gan thấ6m mỡ (3), nhưng không có giảm âm rõ, không có giảm cấu trúc mạch máu như gan thấm mỡ. Số liệu của chúng tôi cho thấy gan có echo dày thay đổi từ 14,3% đến 22,4%. Vách tĩnh mạch cửa dày và sáng từ 7% đến 13,9%.

Viêm gan mạn thể hoạt động thường thay đổi cấu trúc nhiều hơn viêm gan mạn thể tồn tại(4), chủ mô gan thô (coarse) và đường mạch mật giảm sáng, không giảm âm phần thấp nhiều như gan thấm mỡ. Số liệu của chúng tôi cho thấy echo gan thô thay đổi từ 15,4% đến 17%. Khi gan có rối loạn chức năng trầm trọng, bề mặt gan không đều do sự tạo lập các hạt tái tạo, bờ dưới gan cùn (blunted) và mặt sau gan trở nên lồi (convex)(3). Số liệu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ gan có cấu trúc hạt thay đổi từ 09,7% đến 13,3% và mặt sau gan lồi thay đổi từ 19,4% đến 21,3%.

Vách túi mật thường dày trong viêm gan cấp(4) và trong xơ gan(3). Số liệu của chúng tôi cho thấy vách túi mật dày thay đổi từ 0,87% đến 02,42%. Thay đổi dạng túi mật thường là thứ phát sau sự biến dãng của gan(3). Số liệu của chúng tôi cho thấy túi mật méo dạng (gallbladder deformity) thay đổi từ 03,295 đến 05,95%.

Bảng 2 : Ðặc điểm cấu trúc của các loại viêm gan   

Ðặc điểm cấu trúc và hình thái siêu âm gan mật

Viêm gan (US+, Markers+) không tính men gan N = 1367 ca

Viêm gan (US+, Markers+, Men gan tăng 1,5 lần; GOT và GPT ? 60UI/L; GGT ? 65UI/L) N= 403 ca

Viêm gan (US+, Markers+, Men gan tăng 3 lần : GOT và GPT ? 120 UI/L; GGT ? 129UI/L) N = 165 ca

 

Số ca

Tỉ lệ

Số ca

Tỉ lệ

Số ca

Tỉ lệ

Cấu trúc : Thô

Dày

Kém

Hạt

Ðồng dạng

211

15,4%

70

17,4%

28

17%

196

14,3%

73

18,1%

37

22,4%

149

10,9%

43

10,7%

20

12,1%

132

9,7%

51

12,7%

22

13,3%

489

56,5%

209

51,9%

80

48,4%

Gan to

330

24,1%

108

26,8%

151

30,1%

Vách tĩnh mạc cửa dày

96

7%

32

7,9%

23

13,9%

Mặt sau lồi

276

20,2%

86

21,3%

32

19,4%

Bờgan khôngđều

Gồ ghề

đều

56

3,7%

29

7,2%

14

8,5%

5

0,4%

2

0,5%

1

0,6%

1032

75,5%

296

73,4%

124

75,2%

Góc gan bầu

18

1,3%

9

2,2%

7

4,2%

Túi mật nhỏ

Không ghi nhận

Xẹp

Méo dạng

Vách dày

Không thấy

Bình thường

4

0,29%

3

0.74%

3

1.8%

964

70,51%

265

65,75%

102

61,81%

4

0,29%

3

0,74%

3

1,81%

45

3,29%

24

5,95%

8

4,84%

12

0,87%

9

2,23%

4

2,42%

2

0,14%

 

 

 

 

331

24,21%

96

23,82%

43

26,06%

Bảng 2 cho thấy thai đổi cấu trúc gan và túi mật gan trong viêm gan siêu vi B, C nhưng ít và không đặc hiệu qua siêu âm chẩn đoán. Thay đổi cấu trúc gan trong viêm gan tuy đa dạng nhưng không đặc hiệu và tỉ lệ thay đổi không nhiều. Do đó khó chẩn đoán viêm gan bằng siêu âm dù siêu âm có độ nhạy giúp phân biệt gan bình thường bà bất thường(3).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình 1 : Hình ảnh siêu âm của viêm gan cấp

 

Trong gan thấm mỡ

Cấu trúc echo gan thấm mỡ dày hơn chủ mô thận hơn 2 độ xám. Dùng kỹ thuật histogram cường độ siêu âm để so sánh cấu trúc chủ mô gan thấm mỡ và thận, chúng tôi ghi nhận bình quân độ chênh lệch histogram cường độ siêu âm giữa gan và thận ở 101 ca gan thấm mỡ là 730/101 7,22; nghĩa là độ sáng mức độ xám của gan thấy mỡ hơn chủ mô thận là 7,22 so với chứng -0,4(8).

ÐỘ PHÙ HỢP CỦA SIÊU ÂM VỚI XÉT NGHIỆM CẬN LÂM SÀNG KHÁC

Siêu âm trong viêm gan

Ðộ phù hợp của siêu âm chẩn đoán viêm gan với xét nghiệm HBV, HCV :

Bảng 3 :

Xét nghiệm

HBV-HCV

Siêu âm

chẩn đoán

Dương tính

Âm tính

Dương tính

729 ca(a)

30 ca(b)

Âm tính

24 ca(c)

34 ca(d)

a : dương tính thật

b : dương tính già

c : âm tính giả

d : âm tính thật

- Ðộ nhạy 96,81%.

- Ðộ chuyên biệt 53,12%

- Gía trị phỏng đoán dương tính 96%

- Gía trị phỏng đoán âm tính 58,6%.

- Ðộ chính xác 93,39%.

Siêu âm trong gan thấm mỡ

Ðộ phù hợp giữa siêu âm và xét nghiệm cận lâm sàng :

Bảng 4 :

Gan thấm mỡ

Nam

Nữ

Cộng

Tỷ lệ

Ðộ nhẹ

36

41

77

76,24%

Ðộ vừa

8

12

20

19,80%

Sự gia tăng các trị số cholesterol (CT) và triglycerids (TG) có thể đơn lẻ hoặc cùng lúc như trong bảng 5.

Bảng 5 :

Xét nghiệm

Số ca

Tỉ lệ

CT và TG cùng tăng

50

49,50%

CT tăng

23

22,77%

TG tăng

17

16,83%

Nửa số ca có CT và TG cùng tăng ở bệnh lý gan thấm mỡ. Có 07 trường hợp gan thấm mỡ ở siêu âm nhưng không thay đổi CT và TG (06,9%).

Ðố? với sự gia tăng men gan AST và ALT (GOP và GPT) trong gan thấm mỡ, chúng tôi chỉ chọn các trường hợp có sự gia tăng gấp 3 lần trị số bình thường.

 

Bảng 6 :

Xét nghiệm

Số ca

Tỉ lệ

Có tăng men gan và tăng CT, TG

28/67 ca

41,79%

Không tăng men gan và tăng CT, TG

35/65 ca

52,24%

Chỉ tăng men gan

4/67 ca

5,97%

CÁC SAI SÓT CỦA SIÊU ÂM CHẨN ÐOÁN

Trong viêm gan

Thường gặp trong viêm gan cấp, nhất là khi gan không to, bệnh nhân không vàng da. Hình ảnh vách túi mật phù nề trong viêm gan có thể lầm với viêm túi mật cấp. Viêm gan cấp do rượu, do các bệnh nhiễm trùng (thương hàn, leptospi-rosis, lao,.) do các bệnh hệ thống khác có thể bị sai sót.

Viêm gan mạn khó phân biệt với xơ gan giai đoạn sớm, có thể khắc phục bằng cách khảo sát Doppler tĩnh mạch cửa.

Trong gan thấm mỡ

Nếu gan không to khó phân biệt gan thấm mỡ với viêm gan ứ mật, viêm gan do rượu, do thuốc, viêm gan do lao,. Gan thấm mỡ giảm âm rõ phần thấp, giảm cấu trúc mạch máu trong gan. Ðộ chênh lệch histogram gan thận ở gan thấm mỡ cao hơn trong trường hợp viêm gan.

Bảng 7 : Bình quân độ chênh lệch histogram gan thận.

Bệnh lý

Biên độ chênh lệch histogram

Bình quân độ chênh lệch histogram

Ăn chay trường

7,1

7,10

Béo phì

3,7

3,70

Bình thường

-1,6-0,8

-0,40

Gan thấm mỡ

0,7-7,1

7,22

Gan to

-6,9 -7,9

3,50

Rượu

-0,5-9,3

2,61

Thuốc

-10,3-5,6

-1,80

Tiểu đường

0,5-9,3

3,95

Viêm gan HBV/HCV

-10,3-8,5

-0,196

KẾT LUẬN

Siêu âm là một phương tiện chẩn đoán hình ản có độ nhạy cao trong bệnh lý gan mật, không can thiệp (noninvasive) và có thể làm nhiều lần. Với độ chính xác ở viêm gan là 93,39% và ở gan thấm mỡ là 89,10%, khả năng định hướng của siêu âm trong nhóm bệnh lý gan lan tỏa (diffuse liver disease), có ý nghĩa chăm sóc sức khỏe ban đầu.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. DAFIRI, R. và cs : Apport de I? échographie dans la tuberculose des viscères pleines de I? abdomen. J. Radio., N0 2, 1990.

2. ÐỖ ÐÌNH HỒ : Phụ bản chuyên đề Hóasinh Y học. Tạp chí Y học, ÐH Y Dược TP. HCM, số 1994.

3. HAGEN-ANSERT, SL : The Liver, pp.99-158. Textbook of Diagnostic Ultrasonography (Volume 1), 4thed. Mosby - Year Book, 1995.

4. HIGASHI, T và CS : Introduction to Abdominal Ultrasonography, 1991.

5. KURTZ : Ultrasound ACR Learning Files, CD-ROM,1994.

6. IRVING, H.C. : Diffuse liver disease, pp. 295-307, Clinical Ultrasound, Vol. 1, Churchill Livingstone, 1st ed., 1994.

7. NGUYỄN THIỆN HÙNG và CS : Siêu âm chẩn đoán trong viêm gan siêu vi B và C (sơ kết từ tháng 8/1993 đến tháng 6/1994). MEDIC 1994.

8. NGUYỄN THIỆN HÙNG, PHAN THANH HÀI : Siêu âm khảo sát gan thấm mỡ, MEDIC 1995.

9. NGUYỄN THIỆN HÙN, PHAN THANH HẢI : Ðặc điểm histogram cường độ siêu âm gan thận trong bệnh lý gan tỏa, MEDIC 1995.

10. NGUYỄN THIỆN HÙNG, PHAN THANH HÀI : Siêu âm chẩn đoán trong một số bệnh lý gan lan tỏa, MEDIC 1996, gửi đang tạp chí Hình thái học.

11. NGUYỄN THIỆN HÙNG và cs : Thay dổi cấu trúc siêu âm gan mật trong viêm gan siêu vi B và C, MEDIC 1996.

12. NGUYỄN THIỆN HÙNG và cs : Ultrasound in Hepatitis. Báocáo tại Hội nghị Ðiện quang Ðông Nam Á (Asean Association of Radiology, AAR) lần thứ 9 tại Singapore, 23-26/January, 1997.

13. SAVERYMUTTU, S.H. và cs : Ultrasound scanning in the detection of hepatic fibrosis and steatosis, British Medical Journal Vol : 292, pp. 13-15, 4 January, 1986.

<< Ðầu trang