DỊCH TỄ HỌC DINH DƯỠNG :

CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN

Lê Hoàng Ninh*

TÓM TẮT

            Kiến thức của chúng ta về mối quan hễ giữa thực phẩm, chất dinh dưỡng và các bệnh tật hay gặp trong thời đại ngày nay vẫn còn nhiều lỗ hổng. Các bệnh này bao gồm không những các bệnh ung thư tim mạch mà còn các dị dạng di truyền, các bệnh nhiễm trùng mà được đặt giả thuyết là bị ảnh hưởng bởi tình trạng của ký chủ. Trong các phương pháp tiếp cận dịch tễ học, các thử nghiệm ngẫu nhiên  có sức mạnh hơn các nghiên cứu phân tích quan sát : bệnh - chứng, đoàn hệ trong việc đánh giá mối quan hệ giữa thực phẩm và bệnh tật. Tuy nhiên, sự hiểu biết về các mối quan hệ này đa phần lại dựa vào các nghiên cứu dịch tễ quan sát. Trong bài này chỉ điểm lại các cách tiếp cận dịch tễ trong đánh giá mối quan hệ giữa dinh dưỡng, thực phẩm và bệnh tật cũng như những nét đặc thù trong lĩnh vực này.

 

NUTRITIONAL EPIDEMIOLOGY : EPIDEMIOLOGY APPROACHES

Lê Hoàng ninh * Y học TP HCM, 1996, N0. Special : 20 -26

 

SUMMARY

            Our khowledge is still largely incomplete regaeding the relationship between dietary, nutritional factors and major illnesses of culture. The illnesses included not only cancer, heart diseases but also congential malformations and many infestious diseases that are hypothesized to be influenced by the mutritional status of the host. Among episemiologic qpproaches to associations between diet and disease, Rndomized trials are stronger than observational epidemiologic studies : case - control or cohort study design. Our knowledge of many of these associations, however, depends largely on obscrvational epidemiologic studies. This article only overviews the epidemilogic approaches to relationship between diet and diseases as special characters of this field.

DỊCH TỄ HỌC DINH DƯỠNG : MỘT VÀI THÀNH QUẢ

            Dịch tễ học dinh dưỡng phát triển từ khái niệm cho rằng thực phẩm có thể ảnh hưởng đến sức khỏe loài người. Dịch tễ học dinh dưỡng tương đối mới so với lĩnh vực mà các nhà nghiên cứu trước đây áp dụng các phương pháp dịch tễ để xác định các chất dinh dưỡng cơ bản từ hơn 200 năm nay. Vào giữa thế kỷ 18, các quan sát cho thấy rau quả tươi chữa được bệnh scobut. Lind (1753) đã tiến hành một trong những thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát sớm nhất cho thấy cam và chanh có tác dụng trị liệu rất tốt bệnh này, mà sau đó được biết là do thiếu vitamin C(1). Vào cuối thế kỷ 19, bệnh Beri - Beri xuất hiện ở các thủy thủ do ăn lâu dài các loại gạo được chà xát quá kỹ. Takaki đưa ra giả thuyết cho rằng, bệnh này do thiếu một số chất trong thực phẩm. Việc thêm sữa và rau quả và khẩu phần ăn cho thấy có thể khống chế được bệnh, mà mãi đến nhiều thập kỷ sau mới xác định là do thiếu Vitamin B1 (Davidson và Passmore, 1971). Tương tự Goldberge đã  áp dụng phương pháp dịch tễ mô tả về bệnh Pellagra vào đầu thế kỷ 20. Ông nhận thấy rằng bệnh rất phổ biến ở những người trong viện cứu tế, nhưng hầu như không thấy ở những y tá và người phục vụ, mà những người này đều sống chung một môi trường. Từ đó ông đưa ra giả thuyết rằng bệnh không phải là một bệnh nhiễm trùng mà do thực phẩm bởi vì giữa họ ăn các loại thực phẩm khác nhau. Sau đó, ông kiểm định  giả thuyết và  thấy rằng bệnh Pellagra là do thiếu nicotic acid trong thực phẩm (2). Gần đây, các nhà nghiên cứu Trung Quốc, cũng bằng phương pháp dịch tễ đã kết luận rằng thiếu Selenium làm cho tỷ lệ bệnh mới Keshan tăng cao ở miền Trung Trung Quốc (Quang Di 1987) (1)

CÁC ÐẶC TRƯNG MỐI QUAN HỆ GIỮA TIẾP XÚC THỰC PHẨM VÀ BỆNH TẬT

            Các hội chứng bệnh do thiếu chất có tần suất cao ở nhóm người ăn không đủ hoặc thực phẩm không chứa đủ chất, hiếm khi hoặc không bao giờ xảy ra ở nhóm người đưa vào cơ thể đủ chất. Thường các bệnh này có thời kỳ tiềm ẩn ngắn, các hội chứng xuất hiện vài tháng sau khi ăn không đủ chất và có thể hồi phục vài ngày hay vài tuần sau khi ăn đầy đủ trở lại. Do đó các nghiên cứu thường sớm có kết quả bằng các nghiên cứu quan sát  hay thử nghiệm trên người hoặc động vật. Ngày nay, các nhà dịch tễ gặp phải các vấn đề hoàn toàn khác biệt với tình trạng thiếu các chất căn bản như các bệnh ung thư, tim mạch, cườm, đột quị, tiểu đường, các dị dạng di truyền. Không giống như các bệnh do thiếu các chất, các bệnh này chắc rằng có nihều nguyên nhân không những chỉ do thực phẩm mà còn do các yếu tố di truyền, nghề ngihệp, tâm lý xã hội và cả yếu tố nhiễm trùng, mức độ hoạt động thể lực, các đặc trưng hành vi như hút thuốc,. (3+4). Các yếu tố này có thể tác động riêng lẻ hay kết hợp nhau. Các bệnh này thường có thời kỳ tiềm ẩn dài, hệ quả bệnh tật là do tiếp xúc tích lũy trong nhiều năm ; một số bệnh khác do tiếp xúc một thời gian tương đối ngắn hơn, xảy ra trong nhiều năm trước khi được chẩn đoán. Hầu hết các bệnh nhóm này đều không xác định chính xác thời khoảng tiếp xúc. Dĩ nhiên, không loại trừ khả năng tiếp xúc trong một thời khoảng ngắn cũng có thể gây ra bệnh tật. Thí dụ, hút thuốc hay ăn quá nhiều một loại thực phẩm nào đó, sau vài giờ có thể dẫn tới cơn nhồi máu cơ tim cấp hay đột quị do thay đổi khả năng đông máu trên cơ địa xơ mỡ động mạch đã tích lũy nhiều thập niên. Bệnh thường xảy ra với tần số thấp mặc dù  tổng thời gian nguy cơ tích lũy lớn. Hơn nữa, bệnh là do dư thừa hay thiếu các chất trong chế độ ăn và tình trạng này rất khó đảo ngược. Tất cả các đặc trưng này có tầm quan trọng đặc biệt trong thiết kế các nghiên cứu đi tìm bệnh căn.

CÁC CÁCH TIẾP CẬN XÁC ÐỊNH QUAN HỆ THỰC PHẨM & BỆNH TẬT

            Xác định mối quan hệ giữa thực phẩm và bệnh tật trong thời đại chúng ta chẳng những có tầm quan trọng về mặt khoa học mà còn có giá trị ứng dụng cho các các nhà y tế công cộng về dinh dưỡng. Các phương pháp cổ điển mà các nhà dinh dưỡng hay dùng như các nghiên cứu sinh hóa, thực nghiệm trên súc vật hay biến dưỡng trên người góp phần quan trọng nhưng rất tiếc lại không đánh giá, xác định trực tiếp các mối quan hệ này. Ðánh giá, xác định trực tiếp mối quan hệ giữa thực phẩm, chất dinh dưỡng và bệnh tật đòi hỏi  áp dụng phương pháp dịch tễ học- môn học khảo sát sự phân bố bệnh tật và xác định nguyên nhân sự phân bố đó (5). Ngày nay, mô hình bệnh tật ở các nước phát triển đã thay đổi và thay đổi một cách sâu sắc : các bệnh nhiễm trùng đã nhường chổ cho các bệnh mãn tính. Ở các nước đang phát triển, chiều tiến triển của mô ìhnh bệnh tật sẽ không xảy ra như trước đây ở các nước phát triển, các bệnh nhiễm trùng lần lượt nhường chổ khá êm ả cho các bệnh mãn tính, không nhiễm trùng mà là sự đan xen, hội nhập các bệnh không nhiễm trùng, mãn tính vào mô hình các bệnh nhiễm trùng truyền nhiễm. Vì thế, các nhà dịch tễ các nước phát triển thường tập trung nghiên cứu các bệnh có thời kỳ tiềm ẩn dài, nhiều nguyên nhân. Thí dụ họ đã xác minh huyết áp cao, cholesterol máu cao, hút thuốc là nguyên nhân chủ yếu của bệnh mạch vành. Thành quả này góp phần đáng kể vào việc giảm số chết do bệnh mạch vành trong những năm gần đây.

            Trong đánh giá vai trò thực phẩm, chất dinh dưỡng lên bệnh tật, phương pháp dịch tễ học tỏ ra rất sắc bén. Tuy nhiên do bản chất phức hợp của chế độ ăn, sự tương tác giữa các chất dinh dưỡng đôi khi lại là một thách đố đối với dịch tễ học (Willet 1987)(1).

ÐẶC ÐIỂM THU THẬP THÔNG TIN VỀ TIẾP XÚC

            Việc thu thập thông tin về tiếp xúc trong lĩnh vực dinh dưỡng cũng có những đặc thù riêng. Trong một nghiên cứu dịch tễ học thuộc lĩnh vực khác như thuốc lá và ung thư  phổi, thì việc thu thập thông tin về tiếp xúc khá dễ dàng và chính xác. Chính đối tượng nghiên cứu hay vợ (chồng) họ có thể báo cáo chính xác tình trạng hút thuốc, kể cả các thông tin định lương như số điếu thuốc hút một ngày, nhãn hiệu thuốc, tuổi bắt đầu hút,. Do thu thập thông tin về tiếp xúc tương đối chính xác, nên các kết quả nghiên cứu công bố trên y văn hầu như hoàn toàn trùng hợp nhau. Trái lại, trong lĩnh vực thực phẩm, thức ăn mang đặc trưng tiếp xúc phức hợp, quan hệ chặt chẽ với nhau, do đó rất khó xác định về mặt định tính : có tiếp xúc hay không tiếp xúc (trừ một ít trường hợp ngoại lệ), mà thường xác định định lượng dạng biến số liên tục nhưng độ biến thiên các trị số có giới hạn. Hơn nữa, trong thu thập thông tin, hiếm khi đối tượng nghiên cứu cho biết chính xác thời điểm các thay đổi trong chế độ ăn của họ, mà thường chỉ cho ta biết cách thức ăn uống  trong một khoảng thời gian nào đó. Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu thường không biết được thành phần của thực phẩm mà họ ăn. Do đó, xác định sự tiêu thụ các chất dinh dưỡng thường được xác định gián tiếp dựa trên thực phẩm đã ăn mà họ báo cáo hoặc dựa vào đo đạc sinh hóa.

PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN XÁC ÐỊNH MỐI QUAN HỆ THỰC PHẨM & BỆNH TẬT

            Các khái niệm, giả thuyết và kỹ thuật Dịch tễ học được rút ra từ nhiều nguồn : Sinh hóa đã giúp tìm ra một vài chất dinh dưỡng có vai trò như chất chống oxy hóa, giúp bảo vệ tế bào không tổn thương, làm giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư (Ames, 1983) (1). Phương pháp cấy tế bào đã giúp xác định các hợp chất như  tiền viamin A có vai trò điều chỉnh sự phát triển và biệt hóa tế bào, nên tác động đến nguy cơ ung thư ở người. Các thực nghiệm trên súc vật giúp xác định cơ chế tác động và ảnh hưởng của thực phẩm lên bệnh tật. Các nghiên cứu về sinh hóa và biến dưỡng giúp chúng ta hiểu được tác động về mặt sinh lý của các yếu tố thực phẩm. Các nghiên cứu thực nghiệm trên súc vật và invitro không thể ngoại suy trực tiếp lên con người (Ames et al, 1987)  và các thay đổi về sinh lý và biến dưỡng trải qua rất nhiều bứơc trong quá trình sinh bệnh (1). Do đó, hướng tiếp cận Dịch tễ học cực kỳ quan trọng trong đánh giá tác động trực tiếp của thực phẩm lên bệnh tật. Phương pháp dịch tễ học còn giúp khắc phục các mặt hạn chế của các cách tiếp cận khác trong đánh giá sự tương tác, kiểm soát sai số hệ thống, yếu tố gây nhiễu,. Ðể đánh giá mối quan hệ giữa thực phẩm và bệnh tật, các nhà dịch tễ dinh dưỡng thường áp dụng các mô hình nghiên cứu sau đây :

            Nghiên cứu mô tả :

            Mô thức tương quan :

            Mô thức tương quan hay còn  được gọi là mô thức sinh thái. Ðây là dạng nghiên cứu tìm hiểu sự tương quan giữa tỷ lệ bệnh trong dân số và số lượng tiêu thụ bình quân đầu người một loại thực phẩm nào đó. Tiến hành nghiên cứu theo mô thức này ít tốn kém vì thường dựa vào các số liệu có sẵn. Ðể tìm số lượng thịt tiêu thụ trong một dân số, một địa phương nào đó thì bằng số lương thịt sản xuất được cộng với số lượng nhập khẩu trừ đi số lượng xuất khẩu và nuôi gia súc,. Nhiều nghiên cứu dạng này có thể tìm thấy hệ số tương quan rất mạnh như trong nghiên cứu của Armstrong và Doll, 1975, (hình) hệ số tương quan giữa lượng thịt tiêu thụ bình quân đầu người một ngày và tỷ lệ bệnh mới bệnh ung thư đại tràng là r = 0,85 ở đàn ông và r = 0,89 ở đàn bà. Tuy nhiên, trong mô thức nghiên cứu này có một số nhược điểm cơ bản sau đây :

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sự liên quan giữa số gram thịt tiêu thụ bình quân và bệnh ung thư đại tràng ở phụ nữ của nhiều quốc gia (Nguồn : B.K. Armstrong and R. Doll. Int J. Cancer 15 : 617 - 1975)

            + Không có khả năng suy diễn mối quan hệ giữa tiếp xúc và bệnh tật lên cá thể(2). Trong nghiên cứu này, mức độ tiếp xúc được tính bình quân trên dân số bao gồm những người tiếp xúc ở nhiều mức độ khác nhau, kể cả các đối tượng không tiếp xúc nên không đại diện cho dân số nguy cơ. Hơn nữa, số lượng thịt tiêu thụ từng người trong cộng đồng có thể thay đổi, nhưng số lượng thịt tiêu thụ bình quân cho một quốc gia, một vùng thường thay đổi rất ít trong một, hai thập niên. Do đó không thể suy diễn mối quan hệ lên cá nhân qua sử dụng mô thức tương quan. Thí dụ, trong nghiên cứu có thấy sự liên quan mạnh giữa lượng rượt tiêu thụ và bệnh ung thư vú. Ðiều này, không  giúp cho nhà nghiên cứu kết luật là uống rượu nhiều thì nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao. Bởi điều nghịch lý là đối với một nền văn hóa như Việt Nam, hầu hết số lượng rượu tiêu thụ ở phái nam, nhưng bệnh ung thư vú chỉ ở phái nữ.

            + Không thể kiểm soát tác động gây nhiễu của các yếu tố ngoại lai, nên mối liên quan tìm thấy qua nghiên cứu có thể do của yếu tố khác, hoặc kết hợp với yếu tố trong nghiên cứu (2). Trong các nghiên cứu dịch tễ dinh dưỡng, kết quả nghiên cứu có thể bị làm nhiễu bởi các yếu tố như di truyền, môi trường, cách sống và cũng có thể là một loại thực phẩm khác. Thí dụ, phân tích ta thấy tỷ lệ bệnh ung thư đại tràng thấp ở các quốc gia kém phát triển (trừ Nhật Bản), nhưng trong một nghiên cứu khác cho thấy có sự liên quan mạnh giữa tổng sản phẩm quốc gia và tỷ lệ chế ung thư đại tràng (Armstrong và Doll, 1975). Do đó, có thể bất kỳ biến số nào liên quan đến kỹ nghệ hóa cũng đều có quan hệ đến bệnh ung thư đại tràng. Nhìn chung, các nghiên cứu sinh thái thì hữu ích, nhưng chúng không đủ để rút ra kết luận về mối quan hệ giữa yếu tố thực phẩm và bệnh tật(2).

            Các nội dung mô tả trong dịch tễ học dinh dưỡng :

            Dù nghiên cứu lĩnh vực nào, các nội dung mô tả cũng gồm : con người, không gian, thời gian. Thiết kế một nghiên cứu mô tả chặt chẽ giúp trả lời đúng 3 câu hỏi sau đây : Ai mắc, ở đâu mắc, khi nào(2) ? Qua nghiên cứu mô tả có thể giúp nhà nghiên cứu có cơ sở để đặt giả thuyết về sự liên quan giữa thực phẩm và bệnh tật. Trong dịch tễ dinh dưỡng, các đặc trưng mô tả cần lưu ý các tình huống sau đây :

            Nghiên cứu nhóm dân số tiếp xúc đặc biệt :

            Trong một dân số, nếu có một nhóm dân số có tiếp xúc đặc biệt với một loại thực phẩm nào đó. Các nghiên cứu mô tả tiến hành trên nhóm dân số này có thể gợi ý ra mối quan hệ giữa thực phẩm và bệnh tật. Nhóm dân số đặc biệt  này thường mang đặc trưng tôn giáo hay dân tộc thiểu số. Do họ cũng cùng sống chung một môi trường với nhóm so sánh nên giúp kiểm soát được một số yếu tố gây nhiễu. Do đó, sự khác biệt (nếu có) giữa nhóm dân số đặc biệt và nhóm so sánh có thể là do tiếp xúc với thực phẩm trong nghiên cứu. Tuy nhiên, kết quả tìm được cũng còn nhiều hạn chế. Thí dụ, tiến hành nghiên cứu mô tả cho thấy tỷ lệ chế do ung thư đại tràng ở nhóm ăn chay thấp hơn nhóm so sánh thì cũng có thể là do nhóm ăn chay ít uống rượu hoặc do họ ăn nhiều rau quả. Nói chung, nghiên cứu dụng này cũng chỉ giúp đặt giả thuyết  về mối liên quan giữa thực phẩm và bệnh tật.

            Các nghiên cứu trên dân số di cư và chiều hướng tịnh biến của bệnh :

            Dạng nghiên cứu trên dân di cư, tức mô tả bệnh tật theo sự thay đổi không gian giúp đánh giá vai trò của di truyền của bệnh tật. Ðối với hầu hết các bệnh ung thư, dân số di cư từ một vùng hay một quốc gia có tỷ lệ bệnh ung thư nhất định nào đó sẽ dần dần thụ đắc tỷ lệ ung thư ở vùng mới đến định cư. Có khi, sự thụ đắc này xảy ra ở thể hệ thứ 2. Ðiều này cho thấy, yếu tố di truyền không ảnh hưởng tới sự khác biệt về tỷ lệ bệnh ung thư giữa các quốc gia(6).

            Các nghiên cứu chiều hướng tịnh biến của bệnh, tức mô tả bệnh trong dân số theo thời gian dài cũng giúp nhận ra yếu tố không phải di truyền giữ vai trò quan trọng trong nguyên nhân của bệnh. Thí dụ, tỷ lệ bệnh mạch vành tăng lên cao ở Mỹ ở nữa đầu thế kỷ này rồi sau đó giảm dần. Sự thay đổi tinh biến cho thấy các yếu tố khác, không phải do di truyền mà có thể do môi trường hay dinh dưỡng là các nguyên nhân của bệnh.

            Các nghiên cứu phân tích :

            Mô thức bệnh - chứng và đoàn hệ :

            Mô thức bệnh chứng và đoàn hệ giúp nhà nghiên cứu khắc phục được nhược điểm của mô thức sinh thái. Mô thức bệnh - chứng là kiểu nghiên cứu đi người từ kết quả= bệnh tật về "nhân" = tiếp xúc thực phẩm. Phân tích cơ bản dựa vào so sánh sự chênh lệch về mặt tiếp xúc ở nhóm bệnh và nhóm chứng. Mô thức đoàn hệ là kiểu nghiên cứu đi từ "nhân" về "quả", nghĩa là các thông tin về mặt tiếp xúc, mức độ tiếp xúc ở những người khỏe mạnh cần phải xác định trước và được theo dõi một thời gian để xác định hệ quả xảy ra. Phân tích cơ bản trong mô thức này dựa vào sự so sánh tỷ lệ bệnh mới ở nhóm tiếp xúc và không tiếp xúc(2). Hai mô thức này, tác động gây nhiễu được kiểm soát trong thiết kế : Sự ngẫu nhiên hóa trong phân phối các đối tượng vào các nhóm (Randomization), tính chặt chẽ trong việc nhận đối tượng vào nghiên cứu (Restriction), sự kết đôi (matching). (Riêng sự ngẫu nhiên hóa chỉ có thể áp dụng được trong các nghiên cứu can thiệp hay thử nghiệm lâm sàng) hay được kiểm soát trong phân tích : Sự phân tầng hay phân tích đa biến (7). Trong mô thức bệnh chứng, do tình trạng tiếp xúc và bệnh tật được xác định sau khi bệnh đã xuất hiện nên dễ gặp sai số hệ thống (sai số chọn lựa, sai số đo lường, sai số nhớ lại,.) mà việc kiểm soát triệt để chúng là việc rất khó khăn(7).

            Trong lĩnh vực dinh dưỡng, do độ biến thiên của chế độ ăn trong quần thể có giới hạn và một sai lệch trong đo lường là điều khó tránh, nên các số đo mối quan hệ giữa thực phẩm và bệnh tật ở mức độ vừa phải OR, RR vào khoảng 0,5 - 2. Các số đo nguy cơ này tương đối nhỏ nhưng rất quan trọng bởi vì tần số tiếp xúc toàn bộ cao (1).

            Xem xét chọn nguồn cho nhóm chứng trong nghiên cứu bệnh chứng cân nhắc kỹ lưỡng. Nguồn thứ nhất là người bệnh (mắc 1 loại bệnh khác với bệnh đang nghiên cứu) với giả định là loại bệnh được chọn làm "chứng" không có liên quan đến thực phẩm đang nghiên cứu. Thực ra, thực phẩm có thể ảnh hưởng tới nhiều bệnh nên rất khó xác định loại bệnh nào là hoàn toàn không liên hệ gì đến thực phẩm đang nghiên cứu. Nguồn thứ 2 được lấy từ một dân số chung, hay một cộng đồng nào đó. Nếu dân số từ một thành phố lớn lựa chọn, thì tỷ lệ người đủ tiêu chuẩn đồng ý tham gia thường thấp (Hartage et al). Người có ý thức về sức khỏe thường có khuynh hướng chọn lựa, tiết chế thực phẩm sao có lợi cho sức khỏe của họ nên có thể thực phẩm của người đồng ý tham gia có thể hoàn toàn khác với thực phẩm của những người đủ tiêu chuẩn nhưng không đồng ý tham gia vào nghiên cứu. Khi đó sai số hệ thống sẽ xảy ra.

            Trong nghiên cứu đoàn hệ giúp tránh được một số sai số thường gặp trong nghiên cứu bệnh chứng. Hơn nữa, do tình trạng, mức độ tiếp xúc được xác định trước khi hệ quả xảy ra, nên cho dù tỷ lệ tham gia thấp lúc nhân vào nhóm nghiên cứu cũng không thể làm lệch mối quan hệ giữa bệnh tật và thực phẩm, nhưng ảnh hưởng đến tính tổng quát hóa kết quả nghiên cứu. Tuy nhiên, việc mất đối tương không theo dõi được, sẽ ảnh hưởng đến kết quả. Tính giá trị kết quả nghiên cứu bị nghi ngờ, nếu mất đối tượng lên đến 30 - 40%(2). Dù tỷ lệ mất đối tượng thấp, thì việc lý giải kết quả cũng sẽ rất khó khăn vì người nghiên cứu sẽ không biết được hệ quả xảy ra như thế nào trên đối tượng này. Trong một nghiên cứu về sự liên quan giữa thuốc lá và ung thư, người ta nhận thấy rằng người mắc bệnh ung thư thường bỏ cuộc không tham gia vào nghiên cứu  hơn người không mắc bệnh, người hút thuốc mà mắc bệnh thường có khuynh hướng thay đổi chỗ ở hơn người không mắc bệnh (2). Do đó, để hạn chế việc mất đối tượng cần lưu ý chọn lựa dân số từ nguồn mà đảm bảo được việc theo dõi được đối tượng. Tỷ lệ theo dõi thường cao ở các đối tượng cho thấy mong muốn tham gia vào nghiên cứu (Stampfer 1984(1)). Ðối với các đối tượng bị mất, người nghiên cứu cần tiến hành đánh giá độc lập về hệ quả bệnh tật xảy ra. Các nguồn có thể thu thập thông tin bị mất là : người láng giềng, tổ dân phố, công an khu vực, các bảng cáo phó, phòng thống kê hộ tịch (2).

            Ngoài ra, các đối tượng có thể thay đổi hành vi ăn uống sau khi xếp vào nhóm tiếp xúc, không tiếp xúc. Có thể có những đối tượng thay đổi hành vi từ tiếp xúc trở thành không tiếp xúc hoặc ngược lại. Do đó, cần tiến hành giám sát, đánh giá lại về mặt tiếp xúc trong tiến trình nghiên cứu. Trong thực tế, ngay cả với bệnh phổ biến, cở mẫu cũng khá cao, có thể lên đến hàng chục ngàn người nên việc thu thập thông tin rất tốn kém. Ðối với các bệnh hiếm thì dù tiến hành trên các đoàn hệ rất lớn cũng có thể không tích lủy đủ số ca bệnh trong một khoảng thời gian hợp lý. Do đó, các nghiên cứu bệnh chứng vẫn giữ vai trò quan trọng trong dịch tễ học dinh dưỡng.         

            Nghiên cứu can thiệp - các thử nghiệm có kiểm soát :

            Mô thức thử nghiệm có kiểm soát là một kiểu nghiên cứu can thiệp cho phép đánh giá tốt nhất vai trò của thực phẩm tuyệt đối của mô thức này là người nghiên cứu chủ động tạo ra sự khác biệt giữa các nhóm : nhóm được can thiệp, nhóm không được can thiệp đồng thời chính sự ngẫu nhiên trong phân bố các đội tượng nghiên cứu vào các nhóm làm cho các biến số ngoại lai có khả năng tác động lên mối quan hệ giữa biện pháp can thiệp và hệ quả được phân bố tương đồng giữa các nhóm (nếu mẫu lớn), nhờ đó kiểm soát được tác động gây nhiễu của các biến số này. Khi các thành phần của thực phẩm hay sinh tố được đóng dưới dạng viên, thì mô thức thử nghiệm có giá trị đặc biệt trong đánh giá các giả thuyết về vai trò của chúng (Stampfer). Ðiều lưu ý trước khi tiến hành thử nghiệm trên người, cần xem xét các dữ liệu từ các nghiên cứu quan sát để có cơ sở tin rằng hệ quả có lợi là có thể, hệ quả bất lợi là không có thể xảy ra.

            Tuy nhiên, mô thức thử nghiệm trong lĩnh vực dinh dưỡng cũng có một số hạn chế :

-   Thời gian thử nghiệm thường phải kéo dài do thời khoảng tích từ lúc can thiệp đến khi hệ quả xảy ra do can thiệp không có chuẩn mực nhất định. Do đó, trong một vài nghiên cứu không thấy sự khác biệt giữa can thiệp và không can thiệp có thể do thời gian theo dõi chưa đủ để hệ quả xảy ra.

-   Tính chấp hành chế độ can thiệp càng giảm khi thời gian thực nghiệm kéo dài nhất là khi một loại thực phẩm, chất dinh dưỡng được ngĩh là có lợi thì nhóm không can thiệp thường có khuynh hướng dùng các thực phẩm, chất dinh dưỡng của nhóm được can thiệp.

-   Dân số nghiên cứu - những người đủ tiêu chuẩn và đồng ý tham gia vào nghiên cứu thường quan tâm đến sức khỏe và tích cực nên có thể mang một số đặc trưng kinh tế văn hóa, dinh dưỡng không đại diện cho dân số nguy cơ cao, mà dân số này khá nhạy bén với biện pháp can thiệp. Thí dụ một nghiên cứu đánh giá giả thuyết người ăn thực phẩm chứa ít b caroten có nguy cơ mắc ung thư  phổi cao được tiến hành trên một dân số nghiên cứu có quan tâm đến sức khỏe, trong dân số này chỉ có một số ít người có nồng độ b caroten thấp. Nếu can thiệp bằng cách bổ sung chất caroten trong thức ăn thì có thể không thấy được hiệu quả của b caroten do đại bộ phận dân số nghiên cứu đã nhận dồi dào b caroten trong thức ăn của họ. Trong trường hợp này, cần tiến hành đo đạc nồng độ b caroten trước khi tiến hành thử nghiệm, những người có nồng độ b caroten cao có thể được loại bỏ trước khi tiến hành làm ngẫu nhiên phân bố các đối tượng nghiên cứu vào các nhóm, hoặc khi phân tích số liệu.

So với các mô thức phân tích quan sát, nghiên cứu thử nghiệm có sức mạnh hơn hẳn trong đánh giá vai trò của một chất dinh dưỡng trên sức khỏe, bệnh tật. Tuy nhiên, cũng có khi kết quả chưa chín muồi do cở mẫu chưa đủ hay lý do y đức đòi hỏi phải ngừng thử nghiệm khi có ý nghĩa thống kê. Kết luận rút ra còn có vẻ chưa chín muồi khi P value gần bằng trị số 0,05 hay 95% khoảng tin cậy còn chứa trị số cho thấy biện pháp can thiệp không có hiệu quả (như 95% CI của nguy cơ tương đối (RR) hay tỷ số chênh (OR) còn chứa trị số = 1)(7).

            Việc ra quyết định ngừng thử nghiệm giữa chừng đòi hỏi sự đánh giá khách quan, chuẩn mực một hội đồng độc lập với nhóm tiến hành nghiên cứu. Khi một chất dinh dưỡng, sinh tố,. cho thấy có hiệu quả rõ rệt trong phòng chống, hay trị liệu một bệnh nào đó, thì việc cho nhóm so sánh là vi phạm về mặt y đức (2). Trái lại, các kết quả ghi nhận bước đầu có khi chỉ là tạm thời, không bền vững thì việc ngừng thử nghiệm cũng vi phạm đạo đức. Do đó, đòi hỏi đánh giá ngừng thử nghiệm phải khách quan, chặt chẽ và nghiêm túc.

            Mặc dù, các nghiên cứu thử nghiệm có kiểm soát cho những bằng chứng mạnh nhất về mối quan hệ giữa thực phẩm, chất dinh dưỡng và bệnh tật, sức khỏe. Tuy nhiên, có khi không thể thực hiện được bởi lý do y đức. Do lý do y đức, người ta không thể tiến hành thử nghiệm có kiểm soát để kiểm định mối quan hệ giữa rượu và ung thư vú. Do lý do này, các hiểu biết của chúng ta ngày nay về mối quan hệ giữa thuốc lá và ung thư phổi đều dựa vào các nghiên cứu phân tích quan sát. Ngoài ra, các vấn đề khác như cở mẫu, thời gian, mức độ chấp hành chế độ can thiệp,. cần được cân nhắc thận trọng trước khi quyết định chọn lựa mô thức này để tiến hành nghiên cứu(2).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. WILLET WALTER. Overview of nutritional epidemiology. In Nutritional Epidemiology. NewYork, Oxford University Press, (1990) pp 3-19.
  2. LÊ HOÀNG NINH. Các dạng nghiên cứu Dịch tễ học. Trong sách Dịch tễ học cơ bản (Lê Hoàng Ninh & Nguyễn Văn Truyền chủ biên). Nhà xuất bản Y học (1995) trang 156 - 266.
  3. PICKETT GEORGE AND HANLON J.JOHN. Public Health Nutrition in : Puplic Health Administration and Practice, 9 th edition. Time Mirror  / Mosby College Publishing (1990) pp 371 - 389.
  4. LAST MR JOHN. Scope and Metheds of Prevention. In : Last m. John anf Wallace B. Robert 13th Ed. Public Health and Preventive Medicine. Prentice Hall Internatinal (1992) pp 41 - 53.
  5. REYES. C. ARTUCO. Fundamentals of Epidemiology. In : Phoon O. Wai and Chen. C.Y.Paul, eds Textbook of Community Medicine in South - East Asia. John Wiley and Sons, 1987, pp 13 - 23.
  6. BUELL, P. AND DUN, J.E. Cancer mortality among Japanese Issei and Nisei of California. Caucer 18 : 656, (1965).
  7. LÊ HOÀNG NINH. Phân tích các nghiên cứu Dịch tễ : Ðánh giá vai trò cơ hội, sai số hệ thống, yếu tố gây nhiễu (Bài giảng chuyên khoa I VSDT)