BỆNH DO CÁC TRÙNG BÀO TỬ (COCCIDIA) ĐƯỜNG RUỘT
Lê Thị Xuân*, Trần Vinh Hiển**
TÓM TẮT
Sarcocystis hominis, Isospors belli., Cryptosporidium sp. Và Cyclospora sp. Là 4 coccidia, đường ruột thường được phát hiệntrên những bệnh nhân bị tiêu chảy. Ở những người khỏe mạnh, chúng chỉ gây thể bệnh nhẹ hoạ8c vừa, bệnh tự giới hạn. Nhưng ở trên bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch, chúng gây những tổn thương nặng ở ruột, bệnh nhân bị tiêu chảy kéo dài đặc biệt Crytosporidium sp. Tỏ ra là một KST cơ hội đáng sợ. Cả 4 KST này có những đặc điểm giống nhau về dịch tễ học, khả năng gây bệnh, biểu hiện lâm sàng, cách chẩn đoán v2 điều trị.SUMMARY
INTESTINAL COCCIDIOSIS
Lê Thi Xuan- Tran Vinh Hien* Y học TP. Ho Chi Minh* N0.2 - Series 1 - 1997 22-27
Sarcocystis hominis, Isospora belli., Cryptosporidium sp. And Cyclospora sp. Are four frequently identified gastrointestinal pathogens. The most common symptom of infection is diarrhea. Mild to moderate, self-limited diarrhea is common in healthy persons, but patients with immune dysfunction can have severe intestinal injury and prolonged diarrhea. They have important similariries in epidemiology, disease pathogenesis, clinical manifestations, diagnosis and treatment.
Coccidia gây bệnh tiêu chảy cho người đã được biết từ lâu. Các trường hợp đầu tiên xuất hiện lẻ tẻ, ký sinh trùng (KST0 gây bệnh là Isospora belli và Sarcocystis hominis. Năm 1976, một giống thứ 3 mới được tìm ra, đó là Cryptosporidium sp., được phát hiện ngày càng nhiều trên bệnh nhân AIDS. Gần đây, năm 1990, một coccidia đường ruột với tên gọi là Cyclospora cayetanensis cũng được xác nhận.
Các nghiên cứu mới đây đã chứng minh tầm quan trọng của Isospors belli, Cyclospora sp. Và nhất là Cryptosporidium sp. Trong các bệnh thiếu hụt miễn dịch. Ở người bình thường, bệnh tương đối nhẹ, nếu cần, điều trị có kết quả tốt, ở những người bị thiếu hụt miễn dịch, KST không đáp ứng với trị liệu. Bệnh nhân có thể tử vong do mất nước, rối loạn điện giải và suy kiệt.
Do tính cơ hội của những KST này làm trầm trọng thêm diễn tiến và dự hậu của những người bị suy giảm miễn dịch, bệnh cần được quan tâm và phát hiện sớm.
LỊCH SỬ
Vào năm 1860, ở Berlin, Kjelbord, đã phát hiện ra một loài KST mới, gọi là Psoropermie. Ðến năm 1982, Balbiani đặt tên cho chúng là Sarcosporidia.
Năm 1890, Raillet và Lucet lần đầu tiên tìm thấy trứng nang của Isospora belli trong phân người. Sau đó nhiều trường hợp nhiễm I. Belli đã được báo cáo.
Henderson và ctv. đã nêu lên những điểm khác biệt giữa I. Belli và Sarcocystis hominis. Ðến năm 1970, Brandborg và ctv. đã mô tả các giai đoạn phát triển của I. Belli trong ruột người.
Các công trình nghiên cứu cho thấy các coccidia có chu trình phát triển khác nhau : I. Belli chỉ cần một ký chủ còn S. hominis phải qua hai ký chủ.
Năm 1907, Tyzzer phát hiện Cryptosporidium sp ở chuột, tác giả đặt tên cho KST này là Cryptosporium murris. Từ đó, KST này đã được tìm thấy ở rất nhiều loài hữu nhũ khác nhau : heo,bò, dê, ngựa, thỏ, chó, bọ chim, bò sát,..
Ở người, Cryptosporidium sp., hai trường hợp đầu tiên do Nime và ctv., và Meisel và ctv. báo cáo vào năm 1976. Tiếp theo sau trường hợp đầutiên, có rất nihều công trình tập trung vào nghiên cứu phương pháp tìm trứng nang trong bệnh phẩm. Nhờ vậy mà, số trường hợp nhiễm được phát hiện ngày càng tăng. Tính chất gây bệnh cơ hội của KST này xuất hiện năm 1982.
Cyclospora sp. : vào những năm 1986-1989, có vài báo cáo ở Mỹ cho biết có nhưng trường hợp tiêu chảy, trong phân tìm thấy các thể lạ - tạm gọi là thể giống Cyanobacterium (Cyanobacterium - like bodies). Ðến năm 1990, khả năng gây bệnh của KST này được xác định v2 KST này được xếp vào nhóm coccidia đường ruột với tên gọi là Cyclospora.
CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN
Các giống coccidia ký sinh ở người (Isospora, Sarcocystis và Cryptosporium) có 1 sơ đồ chu trình phát triển (CPCT) tương tự với nhau. Isospora và Cryptosporidium cần 1 ký chủ, Sarcotystis cần 2 ký chủ để hoàn tất vòng đời. Những hiểu biết về CTCP của Cyclospora chưa đầy đủ.
Dạng gây nihễm là thoa trùng trong trứng mang. Vào trong ruột ký chủ, dưới tác dụng của trypsin và muối mật, các thoa trùng được phóng thích ra khỏi bào nang, chúng xâm nhập và tế bào ruột, nằm trong không bào do chính chúng tạo ra. Chúng phát triển, trở thành thể phân liệt. Khi thể phân liệt vỡ, cho ra mảnh trùng, có hình dạng dài, tự do trong lòng ruột. Mảnh trùng thế hệ 1 này xâm nhập vào tế bào mới, phát triển thành thể phân liệt thế hệ thứ 2 và cho ra mảnh trùng thế hệ thứ 2.
Sau 2 hoặc nhiều chu kỳ vô tính, mảnh trùng thế hệ sau cùng sẽ biệt hóa thành thể có phái tính : giao vào đực và giao bào cái. Một giao bào đực cho ra nhiều giao tử đực, có roi, đi động ; một giao bào cái cho ra giao tử cái, có một nhân duy nhất. Sự phối hợp giữa giao tử đực và giao tử cái cho ra một hợp tử. Hợp tử tiết ra một bao dày trở thành trứng nang.
Trứng nang thót ra khỏi tế bào ký chủ, rơi vào lòng ruột, được thải ra ngoài cùng với phân. Ở ngoại cảnh, trứng nang tiếp tục phát triển đến khi chín muối ; lúc này trứng nang bao gồm những bào tử nguyên hay bào tử nang chứa thoa trùng bên trong, được che chở bởi một màng dày,. Trứng nang của coccidia không thay đổi kích thước trong quá trình chín muồi. Như vậy, trứng nang là giai đoạn tồn tại ở môi trường bên ngoài và tác nhân gây nhiễm.
NHỮNG ÐẶC ÐIỂM RIÊNG CỦA CÁC GIỐNG
Giống Isospora
Trứng nang có đường kính 20m m, được thải ra theo phân, có 2 bào tử nang, mỗi bào tử nang có 4 thoa trùng.
Có nhiều loại gây nhiễm cho nhiều loài động vật, chỉ có một loài gây bệnh cho người, I. Belli. CTPT xảy ra trong tế bào chất của tế bào biểu mô ruột và trong đơn bào (hạch mạc treo). Thoa trùng gây nhiễm có thể ở vài ngày trong tế bào biểu mô, với tư cách thể ngủ, trước khi trở thành thể phân biệt(14).
Giống Sarcocytis
CTPT phải qua 2 ký chủ. Ký chủ trung gian là loài ăn cỏ hay ăn thịt, KST sinh sản theo kiểu vô tính (chu trình liệt sinh). Ký chủ vĩnh viễn là loài ăn thịt và người. Trong ruột của ký chủ này xảy ra chu trình giao tử sinh, cho ra trứng nang có bào tử nang bên trong; khi trứng nang vỡ ra, sẽ phóng thích bào tử nang. KST phát triển trong lớp lamina propria.
Người bị nhiễm do ăn phải thức ăn có chứa KST nấu chưa chín. Có 2 loại Sarcocystis hominis:
- Sarcocystis-bovi-hominis, ký sinh bò, trứng nang đo được : 0,3 x 14,7 m m.
- Sarcocystis-sui-hominis, ký sinh heo, trứng nang đo được : 9,3 x 12,6m m.
Giống Cyxlospora
Hiểu biết về giống này còn quá ít và tản mạn. Người ta không biết loài gây nhiễm cho các động vật có gây nhiễm cho người hay không. Vị trí ký sinh ở ruột non. CTPT xảy ra trong lớp biểu mô ruột. Trứng nang được tìm thấy trong phân và trong dịch tá tràng. Nếu ủ ở 300C, trứng nang sẽ chín muồi, bên trong có 2 bào tử nang. Mỗi bào tử nang chứa 2 thoa trùng ; khi được ngâm trong dung dịch trypsin, bào tử nang sẽ phóng thích thoa trùng, có micronème(7).
Sơ đồ chu trình phát triển của các coccidia đường ruột
Giống Cyxlospora
Trứng nang có đường kính 4-5m m, có 4 bào tử, nhưng không có bào tử nang. KST gây nhiễm cho người và nhiều loài động vật, có những đặc điểm sau đây(14) :
- Thể phân liệt phát triển trong tế bào biểu mô ruột, ngoài tế bào chất, ngay dưới màng nhung mao.
- Có khả năng nhiễm lâu dài ở 1 số đối tượng do tự nhiễm từ những thoa trùng được phóng thích trong ruột.
- Không có tính đặc hiệu ký chủ.
- Khả năng đề kháng đến ngạc nhiên với số trị liệu thông thường của các coccidia.
- Gây nhiễm lớp biểu mô ruột, có thể gây nhiễm ở phổi.
DỊCH TỄ
Isospora belli và Sarcocystis hominis
Người bị nhiễm bằng đường miệng. Giai đoạn gây nhiễm là trứng nang trong phân đối với I. Belli và bào nang trong cơ đối với S. hominis.
Với I. Belli, có người lành mangbệnh. Trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, ở những nước mà vệ sinh về phân còn kém, bệnh có thể phát triển nhanh và gây nhiễu rối loạn nghiêm trọng ở số bệnh nhân (Faust và ctv.). Nước bị nhiễmKST là nguồn lây nhiễm chính (Sapra và ctv., Clvan, 1969). Những báco cáo mới đây cho biết có thể lây trực tiếp tự người sang người ở những người đồng tính luyến ái (Donals và ctv. 1984; Ma và ctv. 1984; Mark và ctv, 1984)(8).
Thật ra, phần lớn là do thiếu vệ sinh thực phẩm và nước bị ô nhiễm, đó là những nguyên nhân làm lan truyền bệnh, do I. Belli và ăn thịt nấu không chín đối với S. hominis ở người.
Cyclospora cayetanensis
KST này phổ biến trên thế giới, gặp chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Người bị nhiễm do ăn phải trứng nang trong thức ăn bị ô nhiễm. Nguồn nhiễm là nước, sữa tươi. Vai trò của thịt trong sự truyền bệnh chưa được xác định. Bệnh gặp ở trẻ em cũng như ở người lớn, ở người bình thường và ở những bệnh nhân AIDS. Bệnh tăng vào mùa nóng và ẩm (Ortega ; Shlim và ctv.). Cyclospora sp. Ðược phát hiệtn ở những người bị tiêu chảy sau khi đi du lịch các nước vùng nhiệt đới về ; Trung Mỹ, Nam Mỹ, Caraibes, Ấn Ðộ, Ðông Nam Á, Pakistan, Úc, Deluol và ctv. (1995) đã phát hiện 13 trường hợp, trong đó 10 trường hợp từ châu Á trở về, trong số 10 người này có 2 người từ Việt Nam. Người lành mang mầm bệnh hiếm(7,10)
Cryptosporidium sp.
Ðây là một bệnh của động vật lây nhiễm sang người. KST này gây nhiễm cho rất nhiều loại động vật nhất là động vật còn nn. Bê và dê con rất nhạy cảm với KST này. Những người nông dân, thú y chăm sóc chúng bị nhiễm Cryptosporidium sp. (Current và ctv 1982 ; Anderson và ctv, 1980 ; Polack và ctv.; Tzipori và ctv., 1980)(8). Vì vậy cần phải tránh cho những người bị suy giảm miễn dịch tiếp xúc với phân tiêu chảy của động vật bị nhiễm Cryptosporidium. Người bị nhiễm chủ yếu là do ăn phải trứng nang trong thực phẩm, nước, tay bẩn. Có thể lây trực tiếp từ người qua người ở những người đồng tính luyến ái, nguy cơ lây nhiễm còn cao hơn ở những người bị AIDS. Weber và Philipp nêu lên một trường hợp tiêu chảy nghiêm trọngở một người đồng tính luyến ái 7 ngày sau khi có quan hệ bằng hậu môn với người bị tiêu chảy nhẹ.Trứng nang được tìm thấy trong phân rất nhiều ở lần xét nghiệm đaầu tiên, từ ngày thứ 14 trứng nang trở nên hiếm hơn, lúc này bệnh nhân đã hết tiêu chảy(8). Nhân viên phục vụ ở bệnh viện cũng có thể bị nhiễm nếu không áp dụng những biện pháp vệ sinh nghiêm ngặt(1). Chất tiết ở mũi và đàm cũng có thể là nguồn lây nhiễm, dù hiếm gặp hơn ; trứng nang được tìm thấy trong đàm của một bệnh nhân bị nhiễm Cryptospordium sp. Ở phổi (Mele và ctv; Ma 1984)(8)
Trứng nang giữ được tính gây nhiễm rất lâu ở ngoại cảnh ở những vùng ôn đới, bệnh lan rộng và gia tăng từ 1,5% đến 7% vào mùa nóng. Mata và ctv., ở Costa Rica cũng có được kết quả tương tự : từ 7% lên đến 25% vào mùa nóng. Trẻ dưới 30 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao hơn ở các lứa tuổi khác. Ðiều này có lẻ do thiếu vệ sinh và cách thức lây truyền và cũng có thể do tính mẫn cảm của chúng đối với KST này lớn hơn(8). Tỷ lệ nhiễm ở người cao, 1 đến 3% ở những nước công nghiệp và 4 đến 17% ở những nước phát triển(11).
Ở những người bị HIV, việc tìm Cryptosporidium giờ đây đã trở thành một công việc thường qui. Tỷ lệ nhiễm ở những người bị AIDS có triệu chứng ở các nước từ 15 đến 50%(13). Vai trò gây bệnh của Cryptosporidium cũng đã được xác định bằng các thí nghiệm trên thú vật. Cryptosporidium sp. Ký sinh ở ruột non, hiếm khi KST đi vào ống mật hoặc đi xuống ruột già. Kính hiển vi điện tử cho thấy KST rải rác trong các vi nhungmao, KST nằm bên trong tế bào, nơi bờ viền bàn chải(3,5,14). Trong phổi, KST phát triển ở nơi tiếp xúc với màng nhày thanh quản, khí quản và tiểu phế quản. Tại đây KST thường kết hợp với các mầm bệnh khác như siêu vi trùng Cytomegalovirus, với Pneumcocystis carinni,. gây viêm cấp cùng với các triệu chứng như đau, gây khó thở, tiết dịch(14).
LÂM SÀNG
Bệnh do Sarocystis hominis
Thông thường, nếu khôngcó nhiễm kết hợp với các mầm bệnh khác., S.hominis sống hoại sinh trong ruột ký chủ (Deloul và ctv.). Tuy vậy những trường hợp nặng cũng đã được báo cáo (Rassleur và ctv., Hermier vàctv.).S. hominis gây nhiễm trên bệnh nhân bị cắt ruột non (Sukkum Bungaratve 1982). Trong những trường hợp này, thời gian ủ bệnh là 8-12 ngày và biểu hiện lâm sàng bằng những dấu hiệu tiêu hóa: tiêu chảy, buồn nôn, nôn, ăn kém ngon, đau bụng, sốt. Những triệu chứng này thấy rõ hơn trên những cơ địa ốm yếu(8).
Bệnh do Isospora belli
Thời gian ủ bệnh 5-6 ngày, bệnh khởi phát vớibệnh cảnh của viêm ruột có sốt nhẹ kèm theo các giai đoạn tiêu chảy (2-6 lần/ngày), thường không kéo dài, với đau bụng, đầy hơn. Có một số trường hợp tiêu chảy kéo dài nhiều tháng, làm mất nước và mất thăng bằng điện giải. Bạch cầu tăng nhẹ (8000-9000/m l) và bạch cầu toan tính tăng nhẹ, hầu như luôn luôn có tinh thể Charcot-Leyden trong phân (6,8,14). Có một số trường hợp đặc biệt nặng đã được ghi vào y văn: sang thương ở ruột non, tiêu phân mỡ, kém hấp thu (Brandborg và ctv.)(5)
Bệnh do Cryptosporidium sp.
Tùy theo trạng thái miễn dịchcua bệnh nhân.
- Ở ngườicó miễn dịch bình thường : Thời gian ủ bệnh ngắn, 4-14 ngày, (trung bình 10 ngày). Bệnh cảnh của một viêm dạ dày-ruột, nổi bật là tiêu chảy, 5-10 lần một ngày, phân nước hay mềm, kèm theo nôn, đau bụng, có thể có sốt. Bệnh kéo dài 1 đến 2 tuần và tự nhiên khỏi. Cũng có những dạng tiềm ẩn, không có triệu chứng, được phát hiện tình cờ trong một dịp kiểm tra phân. Những trường hợp này nhẹ và thoáng qua.
- Ở những người bị suy giảm miễn dịch :Bệnh nhân bị AIDS chiếm phần lớn các trường hợp nhiễm cryptosporidium sp.. Tiêu chảy nặng và kéo dài, xen kẽ với những giai đoạn bón hoặc bình thường (Pitlik và ctv.). Phân lỏng như nước, dạng tả, lượng phân hàng ngày thay đổi, vài lít một ngày. Trường hợp nặng, có thể lên đến 12 lít/ngày. Tiêu chảy khi nhiều, khi ít, kéo dài nhiều tháng, đôi khi đến lúc bệnh nhân tử vong, trong tình trạng mất nước, mất thăng bằng điện giải, suy dinh dưỡng. Ngoài ra, có thể có triệu chứng : ăn không ngon, nôn, đau bụng, đau đầu, nhưng không thường xuyên, đôi khi có sốt nhẹ. Bệnh do Cryptosporidium sp. cũng tìm thấy ở trẻ thiếu Gammaglobulin trong máu (Sloper và ctv.) và ở những bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch(8,14).
Bệnh do Cyclopsora cayetanensis
Tiêu chảy là triệu chứng thường gặp nhất. Số lượng phân có thể ít hoặc nhiều. Phân không có nhày, không máu, không có tế bào biểu mô ruột, nhưng có mỡ. Các triệu chứng đi kèm là đau bụng, nôn, ăn mất ngon, mệt mỏi. Bệnh nhân thường bị sụt cân nhanh do kém hấp thu ở ruột(2,7,14).
CHẨN ÐOÁN
Chẩn đoán xác định dựa vào :
- Tìm trứng nang trong phân và dịch hút tá-hổng tràng đối với I. Belli và Cryptosporidium sp.
- Tìm bào tử nang của S. hominis và Cyclospora cayetanensis trong phân.
Ở những người có miễn dịch bình thường, trứng nang I. Belli được thải ra trong phân khoảng 20 ngày sau khi bị nhiễm. Ðối với ryptospordium sp. thì 3 ngày sau khi bị nhiễm và kéo dài 2-3 tuần. Ở những người bị suy giảm miễn dịch, trứng nang của 2 KST trên có thể tìm thấy trong một thời gian dài, khi ít, khi nhiều, tương ứng với những thời kỳ bệnh lui hay trở nặng. Bào tử nang của S.hominis được thải ra ngoài khoảng ngày sau khi bị nhiễm. Bệnh thường được phát hiện tình cờ, thường nhiễm kết hợp với những KST khác như Giardia lamblia.
ÐIỀU TRỊ
Với S. hominis : nếu bị nhiễm nặng, có thể dùng Sulfathiazine.Với I. Belli, Trimethoprim và Sulfamethoxazole cho kết quả tốt. Với Cryptosporidium sp., các thuốc diệt vi trùng, ký sinh trùng thông thường không có tác dụng, Sporamycine cho kết quả không đều(14). Gần đây, Healey và ctv. cho biết Paramomycine có tác dụng tốt đối với chuột bị nhiễm Cryptosporidium parvum(9). Cần điều trị nâng đỡ cơ thể, bù nước, cân bằng nước điện giải, cho ăn qua đường truyền(13,8).
PHÒNG NGỪA
Ðốivới I. Belli và S. hominis, cần giữ vệ sinh cá nhân và vệ sinh thực phẩm. Với Cryptosporidium sp., cần giữ vệ sinh cá nhân, những người có nguy cơ nhiễm cao như bệnh nhân AIDS nên tránh tiếp xúc với bệnh nhân hoặc thú vật bị tiêu chảy.
KẾT LUẬN
Tóm lại, cùng với việc không giữ gìn vệ sinh ăn uống, ca nhân tốt, sự gia tăng các bệnh truyền nhiễm qua đường sinh dục do Isospora sp. và Cryptosporidium sp. trở thành một vấn đề thời sự. Chẩn đoán các bệnh do KST này thường chỉ được tiến hành ở các phòng thí nghiệm chuyên môn. Ngày nay có nhiều kỹ thuật phát hiện những KST này, đơn giản, không đòi hỏi hóa chất và trang thiết bị đắt tiền, có thể đưa vào xét nghiệm thường qui ở phòng thí nghiệm . Trong tình hình nhiễm HIV càng ngày càng tăng thì việc phát hiện các KST cơ hội càng đáng quan tâm hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. BAXBYD. HART C. A., TAYLOR C. Human cryptosporidiosis : a possible cas og hospital croos infection. Br. Med. J., 1983, 1760-1761.
2. BENDALL R.P., LUCAS S., MOODY A., TOVEYG., CHIODINE P. L. - Diarrhoea associated with cyanobacterium- like bodies : a new coccidian enteritis ofman. Lancet,1993, 341, 590-591.
3. BIRD G., SMITH M.D. - Cryptosporidium in man : parasite life cycle and fine structural pathology. J. Patho., 1980, 132, 217-233.
4. BLAGBURN B.L., CURRENT W.L., - Accidental infection of a researcher withhuman Cryptosporidium. J. Inf. Dis., 1983, 147.772-773.
5. BRANDBORG L.I., GOLBERG S.B., BREINDENBACH J.C. - Human coccidiosis. A possible cause oj malabsorption. New Eng. J. Med., 1970, 24, 1306-1313.
6. CALLOTJ., KREMER M., PARADIS C., ROMBOURGH. - Commentaires sur 286 cas de coccidiose digestive humaine diagnostiquée à Strasbourg. Bull. Soc. Path. Exot., 1971, 64, 464-468.
7. DELUOL A.M., JUNOD C.H., HEYER F. - Cyclospora sp., novelle coccidie intestinale agent de diarrhée des voyageurs. Feuilletsde biologie, 1995, Vol XXXVI, 202, 17-23.
8. DELUOL A.M., CENAC J.- Coccidioses intestinales. 102-135.
9. HEALEY M.C. et al.- Therapeutic efficacyofParomomycinin immunosuppressed adult mice infected with Cryptosporidium parvum. J. Parasitol,1995 Feb., 81(1), 114-116.
10. HOGE C.,SHLIM D., RAJAH R., TRIPPLET J. SHEAR M., RABOLD G., ETCHEVETVERRIA P. - Epidemiology of diarrhoeaillness associated with coccidian-like organism among travelers and foreign residenrs in Nepal. Lancet, 1993, 341, 1175-1179.
11. MICHAEL J., FARTHING G.,CEVALLOS A.M. ET AL.- Intestinal protozoa. Manson Trpical Disease, 2nd ed. London WB Saunders, 1996, 1255-1998.
12. ORTEGA Y., STERLING C., GILMAN R., CAMA V., DIAZ F. - Cyclosporaspecies - A new protozoan pathogen of human. New Engl. J. Med., 1993, 328, 1308-1312.
13. WAIKAGUL J., MEKAVUTIKULY. - Treatment of intestinal parasite infestations. Medical Progress, Nov 1996, 13-16.
14. WERY M. - Protozoologie médicale. DeBok Université ed., 1995, 179-187.
<< Ðầu trang