Nguyễn Thị Kiều Thơ*
Tóm tắt:
Đặt vấn
đề
và mục tiêu: Mặc
dù cấu trúc giải phẫu ngách trán rất quan trọng
nhưng giải phẫu vùng này vẫn c̣n chưa rơ. Mục
tiêu nghiên cứu của đề tài là khảo sát các kiểu dẫn lưu của
ngách trán và các thành của ngách trán tương ứng.
Thiết
kế nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu: 28 nửa sọ đầu
được nội soi nhận diện ngách trán có thông
thương thẳng vào phễu sàng hay không, sau đó
được cưa dọc thành từng lát 1cm để
khảo sát các thành của ngách trán.
Kết
quả và bàn luận: Sự dẫn lưu trực tiếp
của xoang trán vào trong phễu sàng khoảng 40%, phần c̣n
lại không đổ vào phễu sàng. Các thành của
đường dẫn lưu xoang trán (1) thành sau là mảnh
bóng và thường ít thay đổi; (2) thành trong thường
là do mảng cuốn và mảng trên phễu tạo nên, nếu
đường dẫn lưu đổ trực tiếp
vào phễu sàng th́ mảng trên phễu là thành trong; (3) thành
ngoài chủ yếu là mảng cuốn, kế đến là
xương giấy, có thể có tế bào trán; (4) thành
trước nếu đường dẫn lưu đổ
vào phễu sàng: agger nasi chiếm ưu thế, nếu
dường dẫn lưu không đổ vào phễu sàng:
xương trán chiếm ưu thế, kế đến là
mỏm móc.
Kết
luận: Phương pháp phẫu thuật mở
ngách trán từ sau ra trước, có nghĩa là bám theo mảnh
bóng lên trên và ra trước để vào ngách trán, có vẻ
dễ dàng và an toàn hơn.
Từ khóa: ngách trán, mảng cuốn, mảng
trên phễu.
THE DRAINAGE SITE AND
THE ANATOMICAL BOUNDARIES OF THE NASOFRONTAL DUCT
Nguyen
Thi Kieu Tho * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol.14 - Supplement of No 1-2010: 284 - 289
Background & Objectives: Although complete anatomical knowledge of the nasofrontal duct has been of great importance, little is known about it. The aim of this study is to examine the drainage site of the nasofrontal duct and to investigate the anatomical boundaries of the nasofrontal duct according to the drainage site.
Study Design: 28 sagittally divided adult head specimens were analyzed by dissection. Methods: 14 adult cadaver heads were taken sagittally at 1 cm intervals to evaluate the nasofrontal duct drainage by the endoscope and were dissected to study the structure of the nasofrontal duct.
Results: The nasofrontal duct which pours into the ethmoidal infundibulum directly is 40%. In the most common type, the superior portion of the bulla ethmoidalis formed the posterior border of the nasofrontal duct. The conchal plate formed the medial border and the suprainfundibular plate formed the lateral border of the nasofrontal duct. Other variations are described in detail.
Conclusions: To widen the nasofrontal communication, removing the upper portion of the ground lamella of the ethmoid bulla, which is the posterior boundary of the nasofrontal duct, with cutting forceps seems to be a safe and easy method.

Keywords: Frontal
recess, Conchal plate, Suprainfundibular plate.
Như tất cả các loại
phẫu thuật khác, nắm vững cấu trúc giải phẫu
là một trong những yếu tố quan trọng nhất
trong việc giảm thiểu các biến chứng và tăng
cơ hội có kết quả phẫu thuật tốt.
Điều này đặc biệt rất quan trọng đối
với các nhà phẫu thuật tai mũi
họng khi thực hiện phẫu thuật nội soi
mũi xoang do các xoang mũi đều nằm gần ổ
mắt và nền sọ. Trong đó, giải phẫu
xoang trán vẫn c̣n là thách thức đối với các phẫu
thuật viên có nhiều kinh nghiệm. Hiểu
rơ giải phẫu vùng này giúp phẫu thuật viên phẫu
thuật tự tin hơn, cải thiện t́nh trạng bệnh
lư và quyết định kế hoạch phẫu thuật.
Mục tiêu của nghiên cứu là khảo sát kiểu dẫn
lưu của ngách trán và
các thành của ngách trán tương ứng với kiểu dẫn
lưu.
Đường dẫn lưu của xoang trán đă được mô tả bằng nhiều cách và được gọi bằng nhiều tên khác nhau, phụ thuộc vào phẫu thuật và cách nh́n xoang trán trên giải phẫu. Theo Stammberger(5), ngách trán là phần trước và trên nhất của phức hợp sàng trước. Từ vị trí này xương trán được thông khí để tạo thành xoang trán. Nh́n từ phía trên, ngách trán hẹp về phía lỗ thông xoang trán qua phễu trán. Nếu nh́n từ vị trí lỗ thông, ngách trán mở rộng ra phía sau xuống dưới và thường có dạng phễu ngược.

H́nh 1: Thiết đồ đứng dọc
qua xoang trán cho thấy đường dẫn lưu xoang
trán (mũi tên ngắt quăng dài )
A
Tế bào Agger nasi, B Bóng sàng, SB Tế bào trên bóng, PE Xoang sàng
sau, S Xoang bướm, F Xoang trán, M lỗ đổ xoang hàm
trên, MT xoăn mũi giữa. (3)
Do đó, từ hơn 100
năm nay, giải phẫu hệ thống dẫn lưu
xoang trán luôn được quan tâm và đă có nhiều nghiên
cứu lien quan trên thế giới tuy nhiên ở Việt
Tiêu chuẩn nhận: Phải thỏa điều kiện sau
- Có xoang trán
-
Là người Việt
-
Sọ
đầu vùng mũi c̣n nguyên vẹn về cấu trúc.
-
Không có
bệnh lư bẩm sinh xương đầu mặt.
Tiêu
chuẩn loại: không thỏa các điều kiện
trên.
Là thiết kế
mô tả cắt ngang.
- Chuẩn bị 18 sọ xác.
-
Rửa
sạch 18 sọ xác dưới vòi
nước chảy.
-
Đông lạnh: giữ đông lạnh 18 sọ xác trong tủ
đông, ở nhiệt độ -25oC trong 3
ngày.
- Đông lạnh 14 sọ xác.
- Cố định sọ vào khung.
- Tiến hành cưa sọ làm đôi tại đường giữa.
- Tiến hành cắt lát 1cm ở mỗi nửa sọ xác đã cắt, cố định lát cắt trên mặt kính.
-
Rửa sạch lát cắt dưới vòi nước
chảy.
Thu thập số liệu: ghi nhận các thông tin về các thành và các
thành phần tham gia vào các thành của ngách trán theo
bảng.
Phương pháp xử lư và phân tích số
liệu: sử dụng phần mền
SPSS ver 16.00
Bảng 1: Các cấu trúc tạo
nên thành trước ngách trán
|
|
|
Phép kiểm phi tham số |
|||
|
Tạo nên thành trước
ngách trán bởi một cấu trúc |
Tạo nên thành trước
ngách trán bởi hai
cấu trúc |
n |
Fisher’s Exact |
Giá trị p |
|
|
Phải |
12 (42.9%) |
2 (7.1%) |
14 (50%) |
2.800 |
0.209 |
|
Trái |
8 (28.6%) |
6 (21.4%) |
14 (50%) |
||
|
Tổng cộng |
20 (71.4%) |
8 (28.6%) |
28 (100%) |
|
|
Bảng 2: Nhóm tạo nên thành trước ngách trán bởi một cấu trúc:
|
|
|
Phép kiểm phi tham số |
|||||
|
Mỏm móc |
Xương trán |
Tế bào trán |
Tế bào agger nasi |
n |
Fisher’s Exact |
Giá trị p |
|
|
Phải |
4 (20%) |
4 (20%) |
1 (5%) |
3 (15%) |
12 (60%) |
0.556 |
0.907 |
|
Trái |
2 (10%) |
2 (10%) |
1 (5%) |
3 (15%) |
8 (40%) |
||
|
Tổng cộng |
6 (30%) |
6 (30%) |
2 (10%) |
6 (30%) |
20 (100%) |
|
|
Bảng 3: Nhóm tạo
nên thành trước ngách trán bởi hai
cấu trúc:
|
|
|
Phép kiểm phi tham số |
|||||
|
Mỏm móc và tế bào agger nasi |
Xương trán và tế bào agger nasi |
Tế bào trán và tế bào agger nasi |
Xương trán và mỏm móc |
n |
Fisher’s Exact |
Giá trị p |
|
|
Phải |
0 (0%) |
1 (12.5%) |
1 (12.5%) |
0 (0%) |
2 (25%) |
1.330 |
0.721 |
|
Trái |
1 (12.5%) |
1 (12.5%) |
3 (37.5%) |
1 (12.5%) |
6 (75%) |
||
|
Tổng cộng |
1 (12.5%) |
2 (25%) |
4 (50%) |
1 (12.5%) |
8 (100%) |
|
|
Bảng 4: Các cấu trúc tạo nên thành trước ngách trán
|
|
|
Phép kiểm phi tham số |
|||
|
Mỏm móc |
Mảnh bóng |
n |
Fisher’s Exact |
Giá trị p |
|
|
Phải |
0 (0%) |
14 (50%) |
14 (50%) |
1.037 |
1 |
|
Trái |
1 (3.6%) |
13 (46.4%) |
14 (50%) |
||
|
Tổng cộng |
1 (3.6%) |
27 (96.4%) |
28 (100%) |
|
|
Bảng 5: Các cấu trúc tạo nên thành trước ngách trán
|
|
|
Phép kiểm phi tham số |
||||
|
Mỏm móc |
Mảng cuốn |
Mảng trên phễu (1) |
n |
Fisher’s Exact |
Giá trị p |
|
|
Phải |
1 (3.6%) |
7 (25%) |
6 (21.4%) |
14 (50%) |
1.929 |
0.381 |
|
Trái |
0 (0%) |
10 (35.7%) |
4 (14.3%) |
14 (50%) |
||
|
Tổng cộng |
1 (3.6%) |
17 (60.7%) |
10 (35.7%) |
28 (100%) |
|
|
(1):
tiếp xúc tại một vị trí.
Bảng 6: Các cấu trúc tạo
nên thành trước ngách trán
|
|
|
Phép kiểm phi tham số |
|||
|
Tạo nên thành ngoài bởi
một cấu trúc |
Tạo nên thành ngoài bởi hai cấu trúc |
n |
Fisher’s Exact |
Giá trị p |
|
|
Phải |
13 (46.4%) |
1 (3.6%) |
14 (50%) |
1.040 |
0.595 |
|
Trái |
13 (46.4%) |
1 (3.6%) |
14 (50%) |
||
|
Tổng cộng |
26 (92.8%) |
2 (7.2%) |
28 (100%) |
|
|
Bảng 7: Nhóm tạo nên thành
ngoài ngách trán bởi một cấu trúc:
|
|
|
Phép kiểm phi tham số |
|||||
|
Tế bào trán |
Mảng trên phễu |
Xương giấy |
n |
Fisher’s Exact |
Giá trị p |
||
|
Phải |
1 (3.8%) |
10 (19.3%) |
2 (7.6%) |
13 (50%) |
1.520 |
0.469 |
|
|
Trái |
0 (0%) |
12 (34.6%) |
1 (3.8%) |
13 (50%) |
|||
|
Tổng cộng |
1 (3.8%) |
22 (53.8%) |
3(11.6%) |
26(100%) |
|
|
|
Bảng 8: Nhóm tạo nên thành
ngoài ngách trán bởi hai cấu trúc:
|
|
|
Phép kiểm phi tham số |
|||
|
Tế bào trán và tế
bào agger nasi |
Mảng trên phễu (1) và tế
bào agger nasi |
n |
Fisher’s Exact |
Giá trị p |
|
|
Phải |
0 (0%) |
1 (50%) |
1 (50%) |
1.628 |
0.500 |
|
Trái |
1 (50%) |
0 (0%) |
1 (50%) |
||
|
Tổng cộng |
1 (50%) |
1 (50%) |
2 (100%) |
|
|
(1):
tiếp xúc tại một vị trí.
Trong
nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận phần lớn các thành của
ngách trán được cấu tạo bởi một cấu
trúc với các tỉ lệ tương ứng đối với
thành trước, thành sau, thành trong và thành ngoài lần lượt
là 71.4%, 100%, 100% và 92.8%. Chúng tôi cũng ghi nhận không só sự
khác biệt về đặc tính cấu tạo của các
thành ở hai bên Phải và Trái.
Tỉ lệ mỏm móc, tế bào agger nasi, xương trán xuất
hiện trong thành phần chính tạo thành thành trước
của ngách trán (30%).Chúng tôi cũng ghi nhận trong nhóm cấu
tạo của ngách trán bởi hai cấu trúc th́ tỉ lệ
tế bào trán và tế bào agger nasi chiếm tỉ lệ cao
(50%) trong việc tạo thành thành trước của ngách
trán. Như vậy, tế bào trán và tế bào agger nasi sẽ ảnh hưởng
đến đường dẫn lưu của xoang trán,
tương tự như trong các y văn và nghiên cứu của
các tác giả khác.
Mảnh bóng
chiếm tỉ lệ cao 96.4% các trường hợp tạo
nên thành sau dù có hay không có sự thông thương trực tiếp
vào phễu sàng. Như vậy, mảnh bóng là một cấu
trúc ít thay đổi trong
việc tạo nên thành sau của ngách trán. Điều này
cũng phù hợp với y văn và các nghiên của khác.
Mảng cuốn
và mảng trên phễu chiếm tỉ lệ lớn trong việc
tạo thành thành trong của đường dẫn lưu
của xoang trán (60.7% và 35.7%). Như vậy cấu tạo của
thành trong ít thay đổi, dù có hay không có sự thông
thương trực tiếp vào phễu sàng, cấu tạo
của thành trong thường là mảng cuốn và mảng
trên phễu.
Mảng trên phễu
chiếm phần lớn cấu trúc tham gia tạo nên thành
ngoài của đường dẫn lưu ngách trán (53.8%).
Trong nghiên cứu của Kim(1), mảng trên
phễu được h́nh thành là do sự dính vào của
đầu trên mỏm móc với đầu trên của mảnh
bóng, c̣n trong nghiên cứu của chúng tôi, mảng dính của
đầu trên mỏm móc không chỉ dính vào một vị
trí ở đầu trên mảnh bóng để tạo nên
thành trong mà có thể dính vào nhiều vị trí khác góp phần
tạo nên các thành khác của ngách trán. Điều này có thể
giải thích là do mẫu nghiên cứu là hai lát cắt sọ
liên tiếp sau khi được xử lư bằng kỹ
thuật “iced slice anatomy” tạo điều kiện để
chúng tôi quan sát và thu thập được
mảng trên phễu ở những vị trí khác nhau tạo
nên sự liên tục của các thành.
Trong trường hợp thành ngoài được
tạo nên bởi hai cấu trúc th́ tế bào
trán và tế bào agger nasi chiếm tỉ lệ
50%. Điều này, cho thấy phức hợp tế bào trán
và tế bào agger nasi không chỉ tạo nên thành trước
mà c̣n góp phần tạo nên thành ngoài, t́nh trạng này có thể
ảnh hưởng đường dẫn lưu của
ngách trán.
Qua nghiên cứu,
chúng tôi cũng đă tiến hành so sánh tính ổn định
của các cấu trúc tạo nên thành ngách trán. Trong tất cả
các thành, thành sau của ngách trán tương đối ổn
định, gần như toàn bộ chỉ là do một cấu
trúc mảnh bóng tạo nên. Kế đến là thành trong, chỉ
có một cấu trúc tạo nên, hoặc là do mảng cuốn
hoặc là do mảng trên phễu và một số rất ít
là do mỏm móc tạo nên. C̣n lại thành trước và
thành ngoài của ngách trán rất phức tạp, thường
do hai cấu trúc tạo nên. Điều này cũng cho thấy
phương pháp phẫu thuật mở ngách trán từ sau
ra trước (có nghĩa là bám theo mảnh bóng lên trên và ra
trước để vào ngách trán) có vẻ thuận tiện
hơn là phương pháp phẫu thuật mở ngách trán từ
trước ra sau (có nghĩa là phá tế bào agger nasi và tế
bào trán trước khi vào ngách trán)
Trong
mẫu nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận được có
39% các trường hợp có sự thông thương trực
tiếp của xoang trán vào trong phễu sàng, và 61% các trường
hợp là xoang trán dẫn lưu ra ngoài phễu sàng. Điều
này cũng tương ứng với kết quả nghiên cứu
của Kyung Su Kim và cs(2) trên người Hàn Quốc với các tỉ
lệ tương ứng lần lượt là 40% và 60%.
Bảng 9: Khảo sát sự thông thương giữa
lỗ đổ xoang trán với phễu sàng
|
|
|
Phép kiểm phi tham số |
|||
|
Không thông thương với
phễu sàng |
Có thông thương với
phễu sàng |
n |
Pearson Chi-Square |
Giá trị p |
|
|
Phải |
9 (32.1%) |
5 (17.9%) |
14 (50%) |
0.150 |
0.699 |
|
Trái |
8 (28.6%) |
6 (21.4%) |
14 (50%) |
||
|
Tổng cộng |
17 (60.7%) |
11 (39.3%) |
28 (100%) |
|
|
Chúng tôi
cũng đă tiến hành phân tích về cấu tạo các
thành của đường dẫn lưu của xoang trán
đối với phễu sàng. Kết quả nghiên cứu
của chúng tôi so sánh với kết quả nghiên cứu của
Kyung Su Kim và cs(2) trên 100 nửa
sọ người Hàn Quốc, chúng tôi nhận thấy có
nhiều điểm tương đồng. Đối với
cấu tạo thành sau, bóng sàng là thành phần chính (96.4%) khá
phù hợp với kết quả của tác giả là 99% .
Đối với
thành ngoài, thành phần cấu tạo chủ yếu trong mẫu
khảo sát của chúng tôi đối với trường hợp
dẫn lưu trực tiếp vào phễu sàng và không dẫn
lưu trực tiếp đều là mảng trên phễu với
tỉ lệ lần lượt là 81.8% và 86.6%. Kết quả
này khác với số liệu của Kim với các tỉ lệ
lần lượt là xương giấy (100%) và là mảng
trên phễu (71.6%). Ngoài ra, chúng tôi cũng ghi nhận có 18.2%
các trường hợp xương giấy tham gia vào thành
phần cấu tạo nên thành ngoài trong trường hợp
có thông thương giữa xoang trán vào phễu sàng. Như vậy,
tỉ lệ xương giấy trong nghiên cứu của
chúng tôi thấp hơn của tác giả Kim khoảng 5 lần.
Điều này có thể do khác biệt về mặt chủng
tộc. Nếu có điều kiện chúng tôi sẽ tiến
hành với cỡ mẫu lớn hơn.
Đối với thành trong, thành phần
chính tạo nên thành trong trong mẫu nghiên cứu của
chúng tôi là mảng trên phễu (63.6%) đối với
trường hợp có thông thương, bằng 2/3 so với
nghiên cứu của Kim (mảng trên phễu-100%), và là
mảng cuốn (82.4%) bằng 4/5 so với kết quả
nghiên cứu của tác giả (mảng cuốn-100%) đối
với trường hợp không thông thương. Chúng tôi
cũng ghi nhận có 27.3% các trường hợp mảng
cuốn tham gia cấu tạo nên thành trong trong trường
hợp có sự thông thương giữa xoang trán vào phễu
sàng. Sự khác biệt trên có thể do cỡ mẫu của
chúng tôi chỉ bằng 1/5 so với tác giả Kim (28 so với
100), nếu có điều kiện chúng tôi sẽ tiến
hành với cỡ mẫu lớn hơn.
Tuy nhiên, khi khảo sát đến cấu tạo
của thành trước, trong mẫu nghiên cứu, chúng tôi
ghi nhận tế bào agger nasi
chiếm tỉ lệ cao (66.7%) trong trường hợp có
thông thương vào phễu sàng, c̣n mỏm móc chỉ chiếm
22.2%. Trong khi đó, nghiên cứu của Kim th́ tỉ lệ
của mỏm móc đối với trường hợp có
thông thương là 100%. Điều khác biệt này có thể
do tỉ lệ xuất hiện của tế bào agger nasi trong thành phần cấu
tạo thành trước của tất cả ngách trán trong
nghiên cứu của chúng tôi cao (80%). Trong trường hợp
không có sự thông thương trực tiếp vào phễu
sàng, trong nghiên cứu chúng tôi nhận thấy xương
trán chiếm tỉ lệ 54.5% và mỏm móc là 36.4%, trong khi
đó kết quả của Kim lần lượt là 37.3% và
62.7%. Điều này có thể do ti lệ xuất hiện của
xương trán và mỏm móc khi tham gia vào thành phần cấu
tạo của thành trước trong nghiên cứu của
chúng tôi có sự thay đổi, đối với
xương trán là 80% c̣n đối với mỏm móc là 30%.
Sự dẫn lưu trực tiếp của
xoang trán vào trong phễu sàng khoảng 40%, phần c̣n lại
không đổ vào phễu sàng. Các thành của đường
dẫn lưu xoang trán (1) thành sau là mảnh bóng và thường
ít thay đổi; (2) thành trong thường là do mảng cuốn
và mảng trên phễu tạo nên, nếu đường dẫn
lưu đổ trực tiếp vào phễu sàng th́ mảng
trên phễu là thành trong; (3) thành ngoài chủ yếu là mảng
trên cuốn, kế đến là xương giấy, có thể
có tế bào trán; (4) thành trước nếu đường
dẫn lưu đổ vào phễu sàng: agger nasi chiếm
ưu thế, nếu đường dẫn lưu không
đổ vào phễu sàng: xương trán chiếm ưu thế,
kế đến là mỏm móc. V́ thế,qua nghiên cứu
chúng tôi nhận thấy phương pháp phẫu thuật mở
ngách trán từ sau ra trước, có nghĩa là bám theo mảnh
bóng lên trên và ra trước để vào ngách trán, có vẻ
dễ dàng và an toàn hơn.
4.
Kyung Shik Suh, M.D., PARANASAL SINUSES: Sagittal Anatomy with CT images.
1998.
6.
William E. Davis, M., M. Jerry Templer, and M. Divis S. Parson, Anatomy of
the Paranasal Sinuses.
7.
Zhang, L., et al., Anatomical and computed tomographic analysis of the
interaction between the uncinate process and the agger nasi cell, Acta
Oto-Laryngologica, 2006. 126: p. 8.